Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành phố tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành phố tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

Đền Ngọc Sơn xưa là đảo nhỏ trên hồ Lục Thủy. Bắc qua hồ để đến đền là cầu Thê Húc.
Tương truyền ở đây từng có một ngôi đền được dựng lên để thờ những người đã hy sinh trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Đến đời Vĩnh Hựu nhà Lê, chúa Trịnh Giang đã cho dựng cung Khánh Thụy.

Lê tồn thì Trịnh tại
Lê bại thì Trịnh vong

Câu tục ngữ nói lên mối quan hệ giữa các vua Lê và chúa Trịnh trong một thời gian dài. Tuy nhiên, khi Lê Chiêu Thống được sự giúp sức của giặc phương Bắc đã đốt cung Khánh Thụy để trả thù chúa Trịnh. Đảo Ngọc Sơn tan hoang nên một người tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trên nền cung cũ.

Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), một hội từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương Đế quân vào thờ và đổi chùa thành đền. Tuy nhiên, ra đền vẫn phải dùng thuyền vì không có cầu.

Trước sự xuống cấp của đền Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu, một nhà thơ và nhà văn hóa lớn của Hà Nội, đã đứng ra cải tạo và nâng cấp vào năm 1865. Ông cho xây dựng đình Trấn Ba với ý nghĩa ngăn chặn văn hóa ngoại bang, trên bờ ông cho xây tháp đá ngoài cổng cao 9 m, đỉnh tháp là ngọn bút lông gọi là tháp Bút.

Để nối bờ với đảo ông đã cho dựng cầu và đặt tên là Thê Húc (có nghĩa là giọt ánh sáng đậu lại). Dân gian có câu: "Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài" (cầu ở xứ Bắc không đâu đẹp bằng Nam Định, chùa thì không đâu bằng Bắc Ninh và đình không đâu bằng Sơn Tây) nên ông đã cho mời thợ Nam Định. Cầu gồm 15 nhịp, có 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván, thành sơn màu đỏ sẫm, chữ Thê Húc được thếp vàng.

Sau khi hạ thành Hà Nội năm 1882, đền Ngọc Sơn trở thành nơi ở của một viên quan tư trong quân đội viễn chinh Pháp. Khi quân Cờ Đen phải giải thể năm 1885 thì việc canh gác cho viên quan tư có phần lơi lỏng. Trước cảnh ngang trái ấy, một thanh niên là Nguyễn Văn Minh (còn gọi là Hai Minh) đã đốt cầu. Do còn quá trẻ nên người em cùng tham gia đốt cầu là Hai Nguyên đã kể cho một người bạn và rồi cậu này kể lại với bố là Cả Nghệ nhà ở phố Hàng Mắm. Cả Nghệ đi báo quan Pháp và hai ngày sau, lính ập đến nhà bắt Hai Minh.

Do chưa đến tuổi thành niên nên Hai Nguyên được tha. Trong khi đó vì mới 17 tuổi Hai Minh không bị tử hình nhưng bị bắt tù rồi sau đó chỉ huy quân Pháp ở Bắc kỳ đã đưa vào nhóm tải đạn, tải lương phục vụ cho lính Pháp đánh chiếm các tỉnh miền núi phía bắc. Mùa đông năm 1888, Minh bị đày lên Thái Nguyên theo cuộc hành quân của lính viễn chinh đánh vào chợ Chu. Lợi dụng lính canh mệt mỏi ngủ quên, Hai Minh trốn thoát nhưng vì không thông thạo địa hình cuối cùng cậu bị bắt lại và bị tử hình. Năm đó Hai Minh tròn 18 tuổi.

Sau khi cầu bị Hai Minh đốt, người ta sửa chữa, lát ván dọc theo cầu để cho dân chúng vào lễ. Bức ảnh chụp cầu Thê Húc với những tấm ván lát dọc trên trang web về Hà Nội xưa là của Pierre Dieulefils (ông nổi tiếng nhờ những bức ảnh chụp Hà Nội và Bắc kỳ).

Trong cuốn Hà Nội và những vùng phụ cận của Claudius Madrolle xuất bản năm 1892, tác giả viết: "Cầu Thê Húc được trùng tu vào năm 1888 để thay thế chiếc cầu ọp ẹp. Nó được thay bằng một chiếc cầu gỗ duyên dáng có tính mỹ thuật, được sơn màu đỏ có dáng uốn cong như cầu vồng". Cầu Thê Húc trước khi bị đốt cũng đã đẹp như Claudius mô tả chiếc cầu trùng tu, chỉ có điểm khác là cầu được trùng tu cong hơn để chịu lực tốt hơn.

Vì đền thờ Văn Xương Đế quân nên các sĩ tử trước kỳ thi Hương bao giờ cũng vào đền khấn bái. Sau này các văn sĩ cũng thường xuyên vào đền vãng cảnh và thắp nén hương. Nhà văn Vũ Bằng kể lại trong thiên phóng sự Cai kỷ niệm của ông với cầu Thê Húc. Lần đầu tiên hút mấy bi thuốc phiện ở phố Mã Mây, ông lững thững đi vào đền Ngọc Sơn, nhưng đến giữa cầu Thê Húc thì ông phê thuốc: "Nửa giờ đi qua, tôi cứ đứng vịn thành cầu mà rỏ dãi xuống hồ. Toàn thân tôi không phải bằng da, thịt hay gân sụn...". Sau này khi cai được, ông ân hận vì đã phê thuốc giữa cây cầu duyên dáng nhất Hà Nội.

Tết Nhâm Thìn 1952, người dân đi lễ đền quá đông làm cầu Thê Húc bị sập. Rất may nước hồ Gươm năm đó cạn nên những đứa trẻ rơi xuống hồ không bị chết đuối. Thị trưởng Hà Nội lúc đó là Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cầu cũ, xây cầu mới. Để có thiết kế đẹp, ông Tín tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu và trong hơn 30 mẫu của các kiến trúc sư cả Pháp lẫn Việt tham gia thì thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm (1908-1999) được lựa chọn.

Vẫn giữ lại dáng cong cầu vồng xưa nhưng Nguyễn Ngọc Diệm thiết kế cong hơn để cầu khỏe hơn đồng thời làm cầu nổi hơn. Nguyễn Ngọc Diệm giữ nguyên 16 hàng cọc tròn nhưng các đầu trụ được vuốt nhọn như gợi nhớ lại chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938. Dầm ngang và dầm dọc của Thê Húc đúc bằng bê tông để kéo dài tuổi thọ, tuy nhiên mặt và thành cầu ông thiết kế bằng gỗ.

Có một nhà văn, dịch giả gắn một phần đời với đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc là Lê Bầu. Lê Bầu sống ở khu tập thể đền Ngọc Sơn từ năm 1963 đến năm 1972. Trong bút ký Rùa hồ Gươm, ông viết: "Hồ Gươm làm cho Hà Nội duyên dáng và mềm mại hơn nhưng cầu Thê Húc lại là đồ trang sức quý giá của hồ Gươm".

Lúc còn sống Lê Bầu đã làm con tính, một năm đi làm, đi ăn ngày 2 lần ở bếp tập thể nên ông phải qua lại cầu Thê Húc 2.400 lần và nhân lên với 10 năm là 24.000 lần.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7 - Kỳ 8 - Kỳ 9 - Kỳ 10 - Kỳ 11 - Kỳ 12

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tiến (Thanhnien), internet

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Hoa loa kèn trắng trong vốn được nâng niu, từng bị dán mác “hoa tư sản”, hoa thực dân, và bị hắt hủi suốt một thời kỳ dài bởi biến động xã hội lịch sử.

Tương truyền từ đời vua Lý Thái Tông (1227-1238), Thăng Long hình thành Thập tam trại (Liễu Giai, Ngọc Hà, Đại Yên, Giảng Võ, Hữu Tiệp...) ở phía tây kinh thành. Trong đợt khai quật hoàng thành, các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích một con sông cổ chảy ngang qua kinh thành theo hướng đông - tây, về phía làng Ngọc Hà xưa, và họ cho rằng đây là con sông mang tên sông Ngọc làm nên tên làng Ngọc Hà.
Ngoài trồng lúa, các trại còn trồng rau, quả và hoa để cung cấp cho kinh thành. Hoa trồng ở Thập tam trại chủ yếu là sói, nhài, huệ, ngâu...

Ca dao và tục ngữ Hà Nội có câu:

Giếng Ngọc Hà vừa trong vừa mát
Vườn Ngọc Hà thơm ngát gần xa
Hỏi người xách nước tưới hoa
Có cho ai được vào ra chốn này?

Hay:

Ngày rằm đi chợ mua hoa
Phải chờ thấy gánh Ngọc Hà mới mua

Nhiều quan lại triều Nguyễn khi về hưu không muốn ở lại đất Huế đã trở ra Bắc đến mua đất ở Ngọc Hà, Hữu Tiệp để trồng cây và hoa vui thú điền viên. Họ thuê dân hai làng này vốn có kinh nghiệm chăm sóc. Dù đi trên đường trục hoặc các nhánh đường xương cá của làng, đâu đâu cũng thấy toàn hoa là hoa. Hoa Ngọc Hà phục vụ cuộc sống của người dân đất kinh kỳ từ lễ hội, ma chay, cưới hỏi, cúng lễ và cả ngày thường.

Năm năm sau khi chiếm Hà Nội, năm 1888, một số nhà thực vật học người Pháp đã lập ra Bách Thảo để trồng thí nghiệm các loài cây (người dân quen gọi là Trại Hàng hoa) trên đất của làng Ngọc Hà và Hữu Tiệp. Ngoài trồng các giống cây bản địa, viên giám đốc còn mạnh dạn cho nhập các giống cây nhiệt đới từ châu Phi, các loại hoa, rau, củ, quả từ các nước ôn đới ở châu Âu phù hợp với khí hậu miền Bắc. Hoa nhập từ châu Âu gồm: Qillet (cẩm chướng), pansee (hoa bướm), marquerite (cúc vàng), violette (hoa tím)...

Khu vực trồng hoa Tây được lợp kính và chia thành luống đã tạo ra kỳ hoa dị thảo suốt bốn mùa. Giám đốc vườn thuê mướn dân Ngọc Hà và Hữu Tiệp vào làm vườn. Ban đầu hoa trồng ở đây chỉ phục vụ những gia đình người Pháp trong các dịp sinh nhật, tết Chính trung (Quốc khánh Pháp 14.7) hay tiệc tùng.

Nhờ có vườn Bách Thảo mà dân Ngọc Hà và Hữu Tiệp biết gây giống các loài hoa mới, vì trước kia họ chỉ trồng hoa mẫu đơn, huệ, hồng, sói, cúc vạn thọ, ngâu, thiên lý... Người đầu tiên trồng những giống hoa mới ở Ngọc Hà là ông Phạm Hữu Tỉnh và Trịnh Văn Quang.

Thấy hoa Tây bán được giá và kỹ thuật không quá khó nên cả làng bắt chước hai ông, các giống hoa bản địa ít dần, thay vào đó là các giống hoa Tây. Đầu thế kỷ 20, chị em ở Ngọc Hà, Hữu Tiệp mang hoa vào phố rao nửa Tây, nửa ta “La flơ bà đầm” (mời bà đầm mua hoa).

Cũng nhờ có Bách Thảo, hoa ở Hà Nội phong phú hơn, thú chơi hoa cũng đa dạng hơn. Tiếp nhận văn hóa chơi hoa từ người Pháp đầu tiên là những người làm ở sở Tây, thanh niên du học từ Pháp về, trí thức có tư tưởng tiến bộ và các gia đình giàu có. Không chỉ bày lọ hoa ở bàn tiếp khách ngày tết, ngày thường họ cũng trưng hoa, cùng với hoa là salon Tây.

Hoa Tây không chỉ đi vào văn chương thơ ca mà còn là cảm hứng cho các họa sĩ. Bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ (trước năm 1954, người Hà Nội gọi hoa loa kèn là huệ Tây) của họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ năm 1943 với một thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng đầu về phía lọ hoa toát lên một nỗi buồn vương vấn, nhẹ nhàng được cho là một trong các bức tranh tiêu biểu của hội họa Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Nhưng thân phận loa kèn thật trắc trở...

Năm 1959, bà Hai ở Ngọc Hà đi bán hoa loa kèn, bà kể, vừa mới hạ gánh xuống vỉa hè phố Hàng Đường thì một người phụ nữ mặc quần lụa áo trắng đi qua lẩm nhẩm: “Bà này bán hoa tư sản”.

Bà không hiểu sao lại gọi là hoa tư sản, hoa trồng ra ai mua thì bán. Nghĩ vậy nhưng thấy có gì không ổn, bà định gánh đi thì một người đàn ông ngoài năm mươi nhìn gánh hoa rồi bảo: “Bà không biết bọn tư sản đang bị hạ bệ mà lại còn đi bán loại hoa cho bọn chúng à?”.

Nói xong ông ta lấy mũi bàn chân lập úp cả sàng hoa. Ngọc Hà chăm hoa từ khi cắm cái cây xuống đất, người chơi hoa xong dù bỏ đi mà khi cầm lên vẫn còn nhẹ tay, nỡ nào kẻ đi đường lại đang tay “dập liễu vùi hoa”.

Ức quá, bà rút đòn gánh định phang kẻ chơi hoa lại tệ bạc với hoa thì ông này lớn tiếng: “Bây giờ mà còn bán hoa của bọn thực dân à. Để gọi công an đến xử lý mới được”. Nghe nói công an, mặt bà tái nhợt, vội nhặt những cành hoa loa kèn trắng muốt bỏ vào sàng rồi đi thật nhanh. Nhưng ông kia vẫn còn chưa tha: “Bà kia dừng lại!”. Rẽ sang phố Hàng Cá, bà gánh vội về nhà. Thấy vợ về với gánh hoa còn nguyên, chồng bà đoán có chuyện chẳng lành. Rồi ông ra vườn, băm nát cả mấy sào loa kèn đang nhú hoa, gom lại làm phân.

Chuyện loang ra khắp làng và mùa loa kèn năm ấy Hà Nội đã vắng loài hoa trắng trong, tinh khiết. Những người yêu loài hoa này đoán già đoán non chắc năm nay mất mùa. Ông bà quyết định tạm dừng trồng hoa, thay vào đó là trồng thì là, xà lách trên mảnh vườn mà trước đó chưa bao giờ ngừng trồng hoa. Tuy nhiên hợp tác xã nông nghiệp vẫn trồng lay ơn, hồng, cẩm chướng... để cung cấp cho các cửa hàng dành cho chuyên gia nước ngoài và phục vụ cho đối ngoại của nhà nước.

Đầu những năm 1990, đất đai bắt đầu có giá, hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp mất dần làng cũng vỡ ra. Dân có tiền đổ về đây và những ngôi nhà cao tầng mọc lên che lấp ánh sáng cho hoa. Xác máy bay B.52 vẫn cắm dưới hồ Hữu Tiệp nhưng qua đây không còn mùi nồng của phân, mùi hăng của nước tiểu và đi từ đầu làng đến cuối làng không còn ngan ngát mùi hương...

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7 - Kỳ 8 - Kỳ 9 - Kỳ 10 - Kỳ 11 - Kỳ 12

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tiến (Thanhnien), internet

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

Hàng phượng, cây me, cây sấu, cơm nguội, xà cừ… không chỉ đơn thuần là cây xanh che phủ trên các dãy phố Hà Nội, mà còn gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ.
Cuối năm 1885, Hàng Khảm là phố đầu tiên được lát vỉa hè và cũng là phố đầu tiên trồng cây phượng, một giống cây bản địa lớn nhanh, mở đầu cho việc trồng cây trên hè phố sau đó.

Tuy nhiên, nếu hai hàng phượng trồng trên hè phố Hàng Khảm lớn nhanh và hoa đỏ rực vào mùa hè tạo cảm giác thích thú cho nhiều người Việt Nam, thì người Pháp sống ở phố này bắt đầu sinh sự. Họ kêu lên tòa đốc lý là cành và thân cây đã che lấp cửa hàng khiến họ không buôn bán được, họ cũng la lối rằng những con ve sầu bám trên cây kêu rầm rĩ vào mùa hè làm họ không ngủ được.

Rồi họ vu hai hàng phượng là nơi trú ngụ của muỗi, nguyên nhân gây ra bệnh sốt rét cho người châu Âu. Và thế là chính quyền thành phố ra lệnh chặt hai hàng cây này.

Cây xà cừ nhập từ châu Phi rất được chú ý bởi lớn nhanh cho nhiều bóng mát nên họ cho trồng thử ở khu vực Bách Thảo và xung quanh khu vực này. Tuy nhiên, khi cây lớn, các nhà thực vật đã phát hiện xà cừ không phù hợp với Hà Nội vì rễ ăn ngang, gây nguy hiểm cho nhà dân và tính mạng vào mùa mưa bão; lá rụng quá nhiều, không chịu được đất trũng ứ nước, nên họ đi tìm các giống khác. Tiêu chí các nhà thực vật đề ra là có bóng mát quanh năm, công nhân vệ sinh không vất vả, rễ ăn sâu để an toàn khi mưa bão và tốc độ lớn vừa phải nên họ chọn ra bộ cây gồm: sấu, sao, muồng, cơm nguội, sưa, bằng lăng... thay cho xà cừ.

Họ cho trồng mỗi phố một loài cây để tạo ra kiến trúc phong cảnh, phố Phan Đình Phùng, Lê Thánh Tông, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo... chủ yếu là sấu, Lý Thường Kiệt trồng cây cơm nguội, đoạn đầu phố Lò Đúc trồng cây sao, Nguyễn Du trồng hoa sữa... Các công sở thì cho trồng cọ châu Phi, ngọc lan. Còn vườn hoa trồng bằng lăng, sưa, điểm thêm cọ. Tính đến năm 1954, Hà Nội có 1.512 cây sấu, chiếm tới 60% tổng số cây xanh ở bốn quận nội thành, đến đầu những năm 1990 còn 1.478 cây và năm 2003 còn 1.400 cây. Sấu được trồng đầu tiên ở phố Phan Đình Phùng vào khoảng 1920, sau đó trồng đại trà trên các phố.

Vì sao họ lại chọn sấu làm giống cây chính trồng trên phố? Sấu là giống bản địa có ở nhiều tỉnh thành phía bắc Việt Nam, thân thẳng, tán gọn, rễ cọc, lá rụng một lần nên thuận tiện cho công việc vệ sinh. Kể từ khi cây sấu trồng trên phố Hà Nội cho đến nay, hiếm thấy giống cây này bị đổ do mưa bão. Nhưng sấu còn có những đặc tính mà các cây khác không có là lá hình mắt nai rất đẹp, mùa hè luộc rau muống bè mà không có sấu xem ra mất ngon rồi, lại còn món sấu dầm, sấu chín, thứ quà gắn với đám học trò một thời.

Sau năm 1954, cây xà cừ mà người Pháp "chê" lại được công ty cây xanh mang ra trồng ở hầu hết các phố. Và cho đến nay xà cừ chiếm tới 50% trong tổng số cây xanh ở bốn quận nội thành cũ. Còn hàng cây cơm nguội ở phố Lý Thường Kiệt bị rỗng thân nên người ta đã trồng phượng và bây giờ câu hát "Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng..." của Trịnh Công Sơn chỉ còn trong ký ức. Riêng cây sao đen phố Lò Đúc vẫn tiếp tục vươn cao.

Trong nhiều năm liền ở thập niên 60 thế kỷ trước, mỗi khi chiều về có đến hàng nghìn con cò đến đỗ trên ngọn cây, ỉa bừa bãi làm hè phố trắng phân cò, nên có thời một băng đảng ra đời ở phố Lò Đúc đã tự đặt tên cho băng đảng của mình là “bang cò ỉa”. Năm 1969, vì quanh hồ Gươm chưa kè nên trận bão lớn khiến cây liễu ven hồ bị ngả nghiêng, cây khác thì gãy đổ. Năm 1997, một trận bão rất lớn tràn qua Hà Nội làm đổ tới gần 5.000 cây lớn nhỏ các loại, trong đó chủ yếu là xà cừ.

Có ba loài cây mà trẻ con Hà Nội thời bao cấp ít nhiều đều có kỷ niệm là cây sấu, cơm nguội và xà cừ. Khi quả sấu mới chỉ bằng hòn bi ve, đám trẻ đã tìm cách hái và dù chua vãi thì chúng cũng chấm muối ăn ngấu nghiến. Khi về nhà, bố bắt nằm xuống giường hỏi tội trèo me trèo sấu*, đứa nào cũng cãi, cũng thề nhưng chúng đâu có biết do ăn sấu non nên hàm răng bị đen vì nhựa, điều mà bố chúng hồi trẻ từng như vậy. Khi sấu già, lại theo các nhà thầu nhặt quả rơi, đến khi sấu chín thì công kênh nhau để hái, vì thân sấu rất thẳng, quả thì ở trên ngọn mà cành sấu lại rất giòn nên để hái được quả sấu chín là vô cùng nguy hiểm.

Cây cơm nguội cũng cuốn hút con trẻ vì lấy quả già nhét vào súng “phốc” rồi ngắm mông bạn gái mà bắn thì thú vô cùng. Tất nhiên, chỉ chọn mông các bạn đú đởn, còn nếu bắn đám con gái “bôn” (viết tắt của từ bolsevik trong tiếng Nga, nghĩa là cách mạng, nhưng được hiểu là nghiêm túc, quy củ, cứng nhắc) lập tức bị báo cáo thầy cô giáo ngay lập tức. Còn cây xà cừ là nơi trú ngụ của ve sầu.

Buổi tối thì mò quanh gốc cây, ban ngày quần đùi vác cây sào dài ngoẵng trên có tí nhựa kếp đi dính ve. Mang về cũng chẳng làm gì nhưng là cái thú của đám con trẻ nên ngày nào cũng trốn ngủ trưa lang thang tìm kiếm. Mỗi băng chiếm năm bảy cây và không cho băng khác vào bắt, thế nên mới có chuyện băng này chờ băng kia đi về liền xúm lại đái vào gốc. Tối hôm sau băng kia ra không thấy ve mà chỉ có mùi nước tiểu, thế là hỗn chiến.

Sau khi đổi mới, nhiều thứ được tư nhân hóa và xã hội hóa nên cây xanh Hà Nội như lâm trường. Phố cổ Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Buồm... mọc lên hai dãy dâu da xoan che mát cửa hàng vì giống này dễ sống, lớn rất nhanh...

* Thời bao cấp, trẻ con trèo sấu, me, bàng, cây cơm nguội bị cho là hư hỏng ngang với nhảy tàu điện. Nếu đang trèo cây hay nhảy tàu điện mà người quen nhìn thấy thì chắc chắn họ sẽ mách, bố mẹ chúng cảm ơn họ rồi dạy con bằng những trận đòn thừa sống thiếu chết.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7 - Kỳ 8 - Kỳ 9 - Kỳ 10 - Kỳ 11 - Kỳ 12

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tiến (Thanhnien), internet
Khách phương Tây khi đến Hà Nội vẫn chỉ thích quẩn quanh ở khu 36 phố phường cổ, thay vì lang thang khắp vùng thủ đô mới mở rộng.
"Tây xịn” đặt những khách sạn 4, 5 sao sang trọng, “Tây ba lô” thì tìm những nhà nghỉ nhỏ hơn để tá túc với mức giá từ 10 - 15 đôla cho một ngày đêm. Sau khi kiếm được chỗ ngủ rồi, cuộc hành trình khám phá Hà Nội của những vị khách “Tây ba lô” bắt đầu.

Phượt phố cổ cùng “Tây ba lô”

Phố cổ Hà Nội ẩn chứa một sức thu hút kỳ lạ đối với du khách thập phương không phải do những cảnh đẹp nổi tiếng, mà là bởi một không gian văn hóa ẩn chứa bên trong những con ngõ, hẻm chật chội. Bất cứ vị khách nước ngoài nào khi đến Hà Nội, cũng đều có mong muốn tham quan phố cổ.

Những cái tên như Mã Mây, Hàng Bạc, Hàng Trống, Lương Ngọc Quyến, Hàng Buồm... với các đặc trưng văn hóa, ẩm thực khác nhau, hầu hết đã trở nên vô cùng quen thuộc trong sổ tay du lịch của những vị “Tây ba lô” khi có ý định đến với Hà Nội.

Yolanda, một giáo viên người Tây Ban Nha chia sẻ: “Phố cổ Hà Nội không có những thắng cảnh đẹp, nhưng mỗi lần đi bộ qua đây, tôi luôn có những cảm xúc rất thú vị. Cuộc sống ồn ào đặc trưng cứ luôn tiếp diễn không ngừng nghỉ, những nét văn hóa cổ xưa và hiện đại đều tồn tại ở nơi đây. Điều đó làm cho tôi rất muốn được khám phá.”

Những cửa hàng bày bán các sản phẩm văn hóa đặc trưng của người Việt, từ trước đến nay vẫn có sức thu hút kỳ lạ đối với khách nước ngoài. Các chàng trai, cô gái phương Tây cảm thấy vô cùng thích thú khi được sờ nắn, được thử chơi các nhạc cụ dân tộc trên phố Hàng Gai. Họ cũng rất thích ngắm những đồ lưu niệm trên con phố Hàng Ngang, Hàng Đào; hay cố gắng một lần đặt chân vào căn nhà gỗ số 87 Mã Mây để hòa vào không gian rất Việt Nam…

Trước khi đến Việt Nam, hầu hết những khách du lịch đều đã được bổ trợ những kiến thức về hoạt động mua bán tại đất nước bản địa. Người Việt có thói quen “thét giá cao”, điều đấy giờ đây không còn lạ lẫm với người nước ngoài. Khách du lịch cũng vì thế mà luôn suy tính cẩn thận trước khi mua một mặt hàng nào đó ở Việt Nam. Họ hiểu về nguồn gốc, xuất xứ của mặt hàng này nhiều khi còn hơn cả người bản địa, họ biết mua ở đâu thì sẽ có sản phẩm vừa rẻ, lại vừa chất lượng.

Chính vì thế, thay vì mua những mặt hàng thổ cẩm, đồ thủ công mỹ nghệ, những hình lưu niệm xinh xắn trưng bày trong các khung cửa kính nơi phố cổ, khách phương Tây sẽ mua nó trong chuyến du lịch lên Sapa, và những tỉnh miền núi phía bắc.

Đã là “Tây ba lô” thì hầu bao cho hành trình đi phượt của mình cũng rất hạn chế. Chính vì thế hầu hết khi mua hàng, họ đều biết mặc cả, trả giá như người Việt vậy. Đó cũng chính là lý do mà nhiều chủ cửa hàng ở khu phố cổ tỏ ra không có thiện cảm với những vị khách được gán cho cái mác “Tây ba lô”.

Hầu hết những vị khách nước ngoài đều tỏ ra rất ấn tượng với những món ngon giữa phố phường Hà Nội. Beth, một thương nhân người Mỹ hưng phấn kể cho chúng tôi nghe những món ăn mà bà đã từng được thưởng thức ở phố cổ. “Bún riêu cua” được những ngón tay trái của bà nắn nót ghi vào quyển sổ của chúng tôi cùng với cách phát âm vô cùng thú vị khiến cho bất kỳ người nào nghe cũng phải phá lên cười.

Nghệ thuật kiếm chỗ uống bia vỉa hè

Văn hóa vỉa hè với những quán cóc nhỏ lẻ là một nét đặc trưng chỉ có ở Hà Nội. Đó cũng chính là lý do khiến cho bất cứ vị khách nước ngoài nào khi đến Việt Nam cũng đều mong muốn có được những trải nghiệm với nét văn hóa độc đáo này.

James, người London dẫu chỉ mới đặt chân tới Hà Nội chưa đến 10 tiếng đồng hồ đã vui vẻ chia sẻ với chúng tôi rằng: “Tôi mới đến Hà Nội sáng nay thôi, nhưng tôi thực sự ấn tượng khi dọc hai bên đường có những gánh hàng rong, những quán cóc rất nhỏ chỉ bán một số loại thức uống. Rất hay, và rất lạ, tôi đã thử nếm một ly cà phê vỉa hè. Thực sự rất thú vị!”.

Nhắc đến những hàng quán vỉa hè, có lẽ cái tên gần gũi và quen thuộc với bất cứ vị khách phương Tây nào, chính là con phố Tạ Hiện. Đây là điểm đầu và cũng là điểm cuối trong hành trình khám phá Hà Nội 36 phố phường cổ của du khách phương Tây.

Phố Tạ Hiện chỉ dài khoảng vài trăm mét với những ngôi nhà thấp đặc trưng của phố cổ, nhưng lại vô cùng nổi tiếng với những quán bia cỏ. Hầu hết mọi người đều nghĩ về con phố này như một điểm tụ hội của những vị khách phương Tây, và du khách cứ đến phố Tạ Hiện là sẽ được phục vụ bia một cách thoải mái…

Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Những quán bia trên phố Tạ Hiện rất “kén” trong việc tiếp đón những vị khách Tây; họ chỉ thích tiếp những người Việt, hoặc có chăng thì đó là khi những người khách Tây đi với người Việt, hay vào những hôm trời mưa, những hôm quán vắng khách… thì khách phương Tây mới được chào đón đúng mực.

Lý do vô cùng đơn giản: những cuộc vui của người Việt rất nhanh tàn, họ uống hết cốc này sang cốc khác, chai này đến chai kia, rồi ra về, hàng bia bán chạy với một tốc độ chóng mặt. Nhưng phong cách uống bia của người Tây thì lại khác. Khi người Tây uống bia, họ thường uống rất ít, uống một chai, một ly hoặc vài ly thôi, nhưng họ lại ngồi rất lâu, theo kiểu vừa nhâm nhi vừa ngắm phố phường. Bất cứ người kinh doanh nào cũng đều cân nhắc hơn thiệt. Thành ra, nhiều khi những vị khách phương Tây thường phải dùng những cách thức riêng để cố gắng chen chân vào những hàng bia trên con phố này.

Martin, một vị khách đến từ San Francisco chia sẻ: “Thực ra bia ở phố Tạ Hiện không hẳn là đã ngon hơn những nhà hàng khác, nhưng chúng tôi rất muốn ngồi ở vỉa hè. Tôi thích không khí sôi nổi, đông đúc, ngồi trên chiếc ghế nhựa nhỏ xíu, nhâm nhi bia mát rượi và ngắm phố cổ. Cho nên ngày nào, tôi cũng rủ người bạn Việt Nam cùng đến đây và tán gẫu”.

Nét tính cách hướng ngoại và mong muốn được hòa nhập vào cách sống của người bản địa là một điều thú vị mà những người phương Tây mang đến cho Hà Nội. Chính bởi thế mà văn hóa vỉa hè giống như một thứ ma lực đối với những vị khách từ bên kia bán cầu, không ngoại trừ họ là “Tây ba lô” hay là “Tây xịn”.

“Tây xịn” thường không có thói quen rong ruổi ở các khu phố, các quán vỉa hè nhiều như Tây ba lô, họ đi tham quan phố cổ thường theo những đoàn khách du lịch. Họ luôn bị những hàng quán vỉa hè lôi cuốn và phải nán lại thăm thú mỗi lần đi qua…”. Đó là kinh nghiệm mà chị Thu Quế nhận thấy được sau một thời gian làm công việc hướng dẫn viên du lịch.

Chị Quế kể cho chúng tôi nghe về cụ già Kenvin, người Scotland đã sinh sống ở Hà Nội một thời gian khá lâu, một cụ già mà bất cứ người dân nào trên con phố Tạ Hiện khi nhắc tới cũng đều xem như người thân. Hầu như ngày nào, ông cụ cũng đều ngồi nhâm nhi một vài ly bia trên tuyến phố này, một điều gần như trái ngược với lối sống và sở thích của một người già. “Đáng lẽ ra người già họ thường không thích cuộc sống quá ồn ào, xô bồ, nhưng khi chứng kiến cuộc sống tại những con phố này, tôi mới nhận ra điều ngược lại, họ luôn bị chính cuộc sống nhộn nhịp của những quán xá vỉa hè phố cổ thu hút”, Chị Quế nói.

Ông cụ Kenvin vui vẻ chia sẻ với chúng tôi “Ở Hà Nội, thời tiết rất tốt, bia lại rất ngon, đặc biệt là không khí ở đây, tại những quán bia thì chỉ khi tôi đặt chân đến Việt Nam mới có thể cảm nhận được”.

Không chỉ có bia, vỉa hè Hà Nội còn có những quán cà phê, những quán nước nhỏ lẻ, nhưng không phải bất cứ địa điểm nào cũng đều thu hút khách Tây. Hai tuyến phố Mã Mây và Đào Duy Từ là nơi mà người Tây thường hay lui tới để thưởng thức cà phê vỉa hè, thưởng thức những thức uống dân dã như bao nơi khác: trà đá, trà chanh, nhân trần, chè xanh, nước sấu…

Sự thu hút của những hàng quán tại hai con phố này không nằm ở nguyên nhân thứ nước uống ở đây ngon, mà nằm ở chính bầu không khí. Không gian vỉa hè thoáng mát, lại là nơi tập trung nhiều quán bar, nhiều khách sạn dành cho “Tây ba lô”, họ tụ tập ở đây, cùng nhâm nhi những thức uống và cùng tán gẫu với bạn bè. Đó chính là phong cách “kiểu Tây ba lô”.

Đêm đến thì huyên náo quán bar, pub

Về đêm, khách phương Tây thường tìm đến những quán bar, pub, các vũ trường để hòa vào không gian vô cùng sôi động. Hoạt động này dường như đã trở thành thói quen, mà bất cứ người khách Tây nào dẫu đến Hà Nội đã lâu, hay chỉ lưu lại một vài ngày cũng không bao giờ bỏ qua.

Bar và pub, thậm chí là casino có nhiều loại, dành cho các tầng lớp người có mức thu nhập khác nhau. Những vị khách có điều kiện, thu nhập tốt hay lui đến các bar, club hay pub như Taboo hay Hanoi Rock city ở hồ Tây, Rooftop (Lý Thường Kiệt), Solace (Chương Dương Độ)… Số còn lại, những khách “Tây ba lô thì hay đến những nơi rẻ hơn ở Mã Mây, Hàng Buồm, Tạ Hiện, Bảo Khánh, Lương Ngọc Quyến…
Chính vì thế có thể nói bar, pub trong lòng phố cổ, chính là những tụ điểm của “Tây ba lô”. Họ thường hay lui tới với những cái tên như Temple, Fat Cat, Drangonfly, Le pub…

Theo chân của Jordan (25 tuổi, du khách Mỹ) bước vào quán Amazon trên phố Lương Ngọc Quyến, chúng tôi nhận thấy được không khí vô cùng náo nhiệt tại đây. Anh cho biết những quán bar này đặc biệt tập trung rất đông khách vào dịp cuối tuần. Anh tâm sự thêm: “Hầu hết các quán bar ở phố cổ đều là những tụ điểm ăn chơi khá lành mạnh, không có tình trạng hút chích, khách cũng không được hút thuốc trong các bar, chỉ có shisa, và đồ uống có cồn”.

Hanoi backpackers hostel mặc dù là một khách sạn, nhưng tại đây cũng là địa điểm vui chơi nổi tiếng mà dân “Tây ba lô” đều tìm hiểu kỹ trước khi đến Việt Nam. Nằm trên con phố Mã Mây nổi tiếng, quang cảnh tại Hanoi backpackers hostel về đêm vô cùng nhộn nhịp. Từ bên trong, âm nhạc và không gian gần như chỉ dành cho những du khách phương Tây, người Việt rất ít. Phía ngoài là những tốp người tụ tập, rôm rả trò chuyện, hoặc ngồi ngay phía ngoài cửa hút thuốc, uống bia…

Những quán bar khác cũng luôn luôn tập trung đông đúc những vị khách phương Tây, và cả những người Việt. Chị Lan Hương (Hai Bà Trưng, Hà Nội) hưng phấn nói: “Vào bar dành cho khách Tây này thậm chí còn rẻ hơn so với việc chúng tôi đi chơi tại những bar lớn dành cho người Việt. Tùy vào từng loại đồ uống, mà giá sẽ dao động từ 70 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng. Trong khi đó, mỗi lần vào các quán bar lớn dành cho người Việt, tôi phải mất ít nhất từ 1 triệu đồng trở lên”.

Vào những quán bar, club, pub… đó là thói quen của khách phương Tây, nó thể hiện rõ nét tính cách và khả năng hòa nhập của những du khách khi tới Việt Nam. “Tôi cảm thấy rất vui và hưng phấn mỗi khi đến những quán bar này, vì tại đây tôi tìm thấy được những người bạn của mình ở một đất nước khác, chúng tôi cũng được giao lưu với nhiều người bản địa, hiểu được cách mà họ vui chơi tại các quán bar.

Chỉ có điều, hầu hết các quán bar ở Hà Nội đều đóng cửa khá sớm, thường là vào 12 giờ đêm, trong khi chúng tôi vẫn thường vui chơi ở những quán bar đến 4, 5 giờ sáng mới về tại đất nước của mình”, Jordan chia sẻ.

Du lich,GO! - Theo Thế giới & Hội nhập, internet

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

“Một chọi một lên cột đồng hồ” là câu nói thịnh hành của giới trẻ ở Hà Nội trong những năm 60, 70 thế kỷ trước. “Một chọi một” nghĩa là để giải quyết va chạm hoặc mâu thuẫn, cánh thanh niên xử sự rất quân tử là đánh nhau tay đôi; còn “cột đồng hồ” là địa danh ở đầu phố Hàng Đậu, nơi có chiếc đồng hồ công cộng. Nhưng tại sao lại rủ nhau lên cột đồng hồ để tỷ thí? Và có phải cột đồng hồ Hàng Đậu hay cột đồng hồ khác vì Hà Nội có khá nhiều cột đồng hồ công cộng?

...Chiếc đồng hồ ở tháp giữa, ngay dưới thánh giá của nhà thờ lớn trên phố Nhà Chung khánh thành vào Noel năm 1886. Đúng 12 giờ đêm hôm đó, nó gióng giả 12 tiếng chuông làm các tín đồ Công giáo và cư dân quanh khu vực ngạc nhiên. Dù đồng hồ của nhà thờ Công giáo để con chiên biết giờ hành lễ, song nó cũng là đồng hồ công cộng theo kiểu phương Tây đầu tiên ở Hà Nội.

Mặt đồng hồ quay ra ngoài đường, ai cũng nhìn thấy, hơn nữa, đồng hồ này không tính theo giờ âm lịch của Trung Hoa mà tính theo múi giờ Việt Nam (GMT+7).

Đồng hồ và truyền giáo chẳng có gì liên quan với nhau, thế nhưng ở đất Thăng Long, đồng hồ giúp các nhà truyền giáo thực hiện được sứ mệnh của họ. Chuyện đó diễn ra vào đầu thế kỷ 17. Sau mấy năm dọc ngang ở Đàng Trong, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660), một trong những người ngoại quốc góp phần sáng tạo ra chữ Việt hôm nay, quyết định ra Đàng Ngoài truyền giáo.

< Cột Đồng Hồ xưa...

Tháng 3.1627, ông được chúa Trịnh Tráng, con trai cả của Trịnh Tùng, khi đó đang mang quân đi đánh Đàng Trong, gọi đến gặp ở Ninh Bình. Đánh nhau trở về, ngày 2.6.1627, Trịnh Tráng cho gọi Alexandre de Rhodes vào thành Thăng Long, cho phép ông được giảng đạo. Chỉ một khoảng thời gian ngắn, từ Giáng sinh năm 1927 đến lễ Phục sinh (tháng tư) năm 1628 đã có 500 người dân được rửa tội và hai mươi nhà thờ được xây dựng.

Lo ngại trước thành công đó, triều đình quyết định trục xuất Alexandre de Rhodes và đoàn truyền giáo. Tuy nhiên, họ tìm cách lần lữa, chỉ ra khỏi Thăng Long mà không trở vào Đàng Trong. Họ sống quanh quẩn ở Phố Hiến và các tỉnh lân cận. Lúc này dân ở Đàng Ngoài không có tục xem đồng hồ, với họ là “cơm vua, ngày trời”, thời gian đâu có ý nghĩa gì. Thế nên người dân chia ngày ra làm ba phần: buổi sáng, buổi trưa, buổi tối và ấn định thêm một chút là gần nửa buổi sáng, gần nửa buổi chiều. Ban đêm được chia làm năm canh. Chỉ có nhà quan mới dùng đồng hồ, vì họ phải biết giờ để vào chầu vua chúa, biết giờ để xuất hành... Nhưng đồng hồ các quan dùng chủ yếu theo kiểu Hồi giáo, là những gáo đồng được thả vào trong một bồn nước. Các gáo đồng được đục một lỗ nhỏ, khi gáo đầy nước sẽ rơi xuống đáy.

Người trông đồng hồ lúc đó sẽ đánh vào chiếc cồng và tùy theo canh mấy mà đánh bao nhiêu tiếng. Nhưng cũng có quan lại dùng đồng hồ cát, và khi đồng hồ cát có vấn đề thì họ đành phải chờ thợ của triều đình đến sửa. Nhưng thợ thì ít trong khi có quá nhiều đồng hồ hỏng. Biết được điều này, các nhà truyền giáo đã học cách làm và sửa đồng hồ cát, việc không quá khó đối với họ. Thế là khi cần làm đồng hồ, các quan cho gọi nhà truyền giáo. Mỗi lần vào thành làm đồng hồ chỉ mất từ năm đến sáu tiếng nhưng họ kéo dài công việc đến mười có khi là mười hai ngày, trong thời gian đó, họ kiếm cớ đi gặp con chiên và giảng đạo.

Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã cho chuyển kinh đô từ Thăng Long vào Huế, hạ cấp Thăng Long xuống Bắc thành, rồi cho phá thành cũ xây thành mới nhỏ hơn và cho làm một chiếc đồng hồ. Chiếc đồng hồ này chế tạo theo kiểu đồng hồ Hồi giáo mà trước đó quan lại thời Hậu Lê đã dùng nhưng to hơn. Vị trí đặt đồng hồ trông ra đường Nguyễn Tri Phương hiện nay.


< ... và ngày nay.

Lối vào gọi là cổng đồng hồ, có lính canh bên ngoài. Khi gáo đồng rơi xuống đáy bể, người trực canh báo cho lính đánh trống biết là canh mấy. Nhưng trống ban ngày và đêm khác nhau. Canh một đánh một hồi, canh hai đánh hai hồi, canh năm đánh năm hồi nhưng đến canh Mão lại chỉ đánh một tiếng, canh Thìn đánh hai tiếng và canh  Dậu (chuẩn bị chuyển sang canh một) đánh bảy tiếng. Đêm 24 rạng ngày 25.4.1882, trước lúc quân Pháp bắn đại bác vào thành Hà Nội, dân vẫn còn nghe trống canh. Khi thực dân Pháp chiếm thành, biến thành nơi đóng quân, thì nhiều công trình bị phá bỏ, trong đó có chiếc đồng hồ một thời gian dài gắn bó với dân thành Thăng Long.

Trở lại với câu cửa miệng “Một chọi một lên cột đồng hồ”, vậy thanh niên "tỷ thí" ở cột đồng hồ nào vì Hà Nội có rất nhiều cột đồng hồ công cộng. Trước khi khánh thành cầu Long Biên, đốc lý Pretre Charles (giữ chức vụ này từ ngày 1.8.1901 đến 21.11.1901) cho lắp chiếc đồng hồ ngoài trời đầu tiên ở đầu phố Hàng Đậu, tiếp đó ở quảng trường Đông Kinh nghĩa thục hiện nay, rồi Cửa Nam, cổng Bảo tàng Lịch sử, ngã tư Sở...

Trừ chiếc đồng hồ ở đầu Hàng Đậu là hai mặt tròn, còn lại là ba mặt vuông để mở rộng góc xem giờ. Cột đồng hồ đầu phố Hàng Đậu lúc nào cũng đông đúc người qua lại và cạnh đó có bốt công an gác cầu nên thanh niên không bao giờ đánh nhau ở đây. Địa điểm hẹn đánh nhau chính là cột đồng hồ trước Bảo tàng Lịch sử, khu vực này không có nhà dân lại thưa vắng người qua lại.

“Người gác đồng hồ đêm trước nhà có giỗ uống quá chén nên đêm sau trực ngủ quên, nửa đêm nghe tiếng trống canh giật mình tỉnh dậy vội chạy đến chỗ anh đánh trống hỏi han thì mới vỡ lẽ do làm nghề này quá lâu nên cứ đúng canh một, người anh giật một hồi, canh hai giật hai hồi, canh ba giật ba hồi. Thấy người giật lại không thấy lính báo giờ chạy sang nên đoán ngủ quên thế là cứ đánh” - Trích bài viết về thân phận lính đánh trống canh xưa, Báo Tiếng dân đăng năm 1933.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7 - Kỳ 8 - Kỳ 9 - Kỳ 10 - Kỳ 11 - Kỳ 12

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tiến (Thanhnien), internet

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Vỉa hè Hà Nội đầu tiên được lát từ cuối năm 1885 ở phố Hàng Khảm (bao gồm Tràng Tiền, Hàng Khay ngày nay).
Đánh bại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và chuyển kinh đô vào Huế năm 1802. Từ đó, Thăng Long không những không còn là kinh đô mà bị giáng xuống trấn thành rồi tỉnh Hà Nội. Là tỉnh nên Hà Nội cũng như các tỉnh khác trong cả nước, không có xây mới hay cải tạo nên phố phường vẫn như thời vua Lê - chúa Trịnh.

Dù các phố nằm trong phường nghề vẫn buôn bán tấp nập nhưng rất hẹp, cửa hàng với các tấm phên che nắng, che mưa lấn ra cả đường đi. Vào ngày mưa, nước chậm tiêu nên hai bên rãnh thoát bùn sâu tới mấy chục cen ti mét. Mỗi khi có ngựa xe qua, người đi chợ phải dạt sang hai bên, đứng dưới bùn nhão nhoét.

< Phố Hàng Khảm xưa (nay là Tràng Tiền).

Chỉ có vài phố Hoa kiều như Phúc Kiến (nay là Lãn Ông), quân Cờ Đen (nay là Mã Mây), Hàng Ngang thì đường được lát gạch sạch sẽ. Không có biển tên phố, không có số nhà đã gây khó khăn cho quản lý dân và ngăn cản nạn cướp phá của quân Cờ Đen. Năm 1883, viên Cảnh sát trưởng Hà Nội bàn bạc với Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ cho lấy gạch ngói vỡ rải ra một số con đường.

Cũng trong năm này, công sứ đầu tiên ở Hà Nội là Bonnal đã bắt đầu thực hiện chính sách cải tạo và xây dựng Hà Nội. Việc đầu tiên là cho quy hoạch khu vực hồ Gươm, làm đường quanh hồ, mở rộng đường từ khu nhượng địa Đồn Thủy đến thành. Cuối năm 1885, chính quyền khánh thành đường Hàng Khảm (bao gồm Tràng Tiền, Hàng Khay ngày nay). Mặt đường mở rộng, hai bên vỉa hè cho lát gạch và trồng hai hàng phượng. Và vỉa hè Hàng Khảm là vỉa hè đầu tiên của Hà Nội theo kiểu của thành thị phương Tây.

Cùng với mở rộng đường ở phố Hàng Khảm, Bonnal còn cho xây cơ quan hành chính phía đông hồ Gươm như tòa đốc lý, bưu điện, kho bạc, Bắc Bộ phủ... nên các còn đường quanh khu vực này đều có vỉa hè và các công trình thoát nước.

Trong nhiệm kỳ của mình, ông có dự án cải tạo lại các khu phố cổ, bắt buộc các nhà phải làm thẳng hàng có rãnh thoát nước, đánh số nhà. Tại các khu phố xây dựng theo kiểu Pháp gồm: Trần Hưng Đạo, Hàng Bài, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Bà Triệu...

Từ năm 1897 đến năm 1901 người ta tiếp tục lát vỉa hè với loại gạch vuông rạch khía viền bờ bằng đá đẽo và đã lát được khoảng 5 km. Trong kế hoạch cải tạo, Hội đồng thành phố cũng đã biểu quyết lấy từ ngân sách để tiếp tục lát vỉa hè ở những phố lớn khu trung tâm. Sau khi xây dựng nhà hàng Godard, ba phía của nhà hàng này là Hàng Khảm (Tràng Tiền ngày nay), Đồng Khánh (Hàng Bài ngày nay) và Hai Bà Trưng có vỉa hè rất rộng. Trước ba cổng ra vào trung tâm thương mại này có dòng chữ Khu vực cấm để xe đạp bằng chữ Pháp gắn chìm vào vỉa hè.

Mới chỉ có vỉa hè phố Hàng Khảm và quanh hồ Gươm nhưng ngày 20.12.1889, Đốc lý Landes đã ký một nghị định cho thuê vỉa hè vĩnh viễn để bán hàng và bán cà phê trong giới hạn của thành phố với mức thu 40 xu/m2 trong một năm. Thế nên năm 2008, khách sạn Métropole xin phép chính quyền bán cà phê trên vỉa hè phố Ngô Quyền và Lê Phụng Hiểu đã đưa ra lý do: đầu thế kỷ 20, họ thuê vỉa hè ở hai phố này để bán cà phê rồi.

Năm 1902, khi Hà Nội trở thành thủ đô của liên bang Đông Dương thì các quy định càng chặt chẽ hơn. Các phố mới mà ngày nay là phố Lê Hồng Phong, Điện Biên Phủ, Khúc Hạo, Phan Đình Phùng, Lý Nam Đế, Chu Văn An... với hàng loạt biệt thự sang trọng có vỉa hè rất rộng, đặc biệt là phố Phan Đình Phùng có hai hàng cây xanh. Từ đó các phố mới xây, hay các phố khu vực “36 phố phường” khi cải tạo đều phải có vỉa hè đúng như quy hoạch.

Từ năm 1954, năm tiếp quản thủ đô cho đến 1975, hầu như không có sự thay đổi trong vỉa hè, những chỗ bị hư hỏng được lát bằng gạch đỏ mà dân quen gọi là gạch lá dừa. Gạch đỏ này nung ở nhiệt độ cao nên cứng gần như sứ. Vỉa hè không chỉ dành cho người đi bộ mà thời bao cấp còn là nơi đặt bếp nấu bánh chưng tết, các vòi nước công cộng trở thành chỗ rửa rau vo gạo, chỗ tắm khi nước sạch chảy ri ri không chảy nổi vào nhà.

Nếu trước 1954, vỉa hè chỉ là nơi kinh doanh khi chính quyền cấp phép thì thời bao cấp và đặc biệt là từ năm 1989 đến 1991, vỉa hè đúng nghĩa là nơi kiếm sống, đông đúc như Kẻ chợ xưa. Sở dĩ như vậy là khi chuyển đổi cơ chế, nhiều nhà máy, xí nghiệp không bắt kịp đổi mới dẫn đến cán bộ công nhân không có việc nên không có lương. Để giải quyết thực trạng đó, nhà nước ra nghị định 176, nôm na là "về hưu non một cục". Số cán bộ công nhân về chế độ 176 đông vô kể và để tiếp tục sống, những người không có cửa hàng, ít tiền chỉ còn cách lao ra vỉa hè.

Đầu đường thượng tá bơm xe
Giữa đường trung tá bán chè đậu đen...

Sáng ra là chỗ các bà, các chị ở Hoàng Mai bán xôi xéo, xôi ngô, chị em làng Thanh Trì bán bánh cuốn Thanh Trì. Vỉa hè thích hợp với hai thứ quà sáng bình dân này. Rồi phở gánh, bún mọc. Hết quà sáng là đến rau, quả và quà vặt. Trưa là chè, rượu nếp và mùa hè bán cháo đậu xanh, cháo hoa, chiều lại đến bán rau, quả, thịt thà, đậu phụ hay bia hơi. Chợ vỉa hè tiện cho mỗi người vì không phải gửi xe chỉ ghé vào là mua và không phải đóng thuế nên cũng rẻ hơn đôi chút so với các chợ có tên tuổi. Thời bao cấp dân gian có thơ:

... Hàng Bè chợ của thương nhân
Vỉa hè chợ của nhân dân anh hùng

“Khi tôi đến Hà Nội vào tháng 3.1897 thì khu phố của người An Nam với những cửa hàng lấn ra đến tận đường, phố xã không có vỉa hè và chen chúc những người và người. Đó chính là những thứ đích thực của Hà Nội”, công sứ đầu tiên ở Hà Nội Bonnal, trích cuốn Xứ Đông Pháp và những kỷ niệm (L'Indochine Francaise souvenirs, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer nhiệm kỳ 1897-1901; Trích Đi dọc Hà Nội, Chibooks)

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7 - Kỳ 8 - Kỳ 9 - Kỳ 10 - Kỳ 11 - Kỳ 12

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tiến (Thanhnien), internet

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Đào Nhật Tân - linh hồn của những ngày tết, cũng từng bị coi là hoa tư sản, bị ế ẩm và bị phá sạch hồi thập niên 50 thế kỷ trước.
Dân gian có câu “Đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế”, vậy đào Nhật Tân có từ bao giờ?

Trở lại thế kỷ thứ 7, Tống Bình trở thành thủ phủ của mười hai châu, năm mươi huyện thuộc An Nam đô hộ phủ do nhà Đường (Trung Quốc) lập ra vào năm 607. An Nam đô hộ phủ đặt ở vị trí mà nay là đất Phú Thượng, Nhật Tân (thuộc quận Tây Hồ). Quan và quân Trung Hoa ở đây không biết bao giờ được về quê hương và để bớt nỗi nhớ, đồng thời tính được thời gian ở Giao Chỉ, viên quan đứng đầu đã sai quân lên rừng Hoàng Liên Sơn đốn đào mang về trồng. Khi hoa nở, họ biết tết sắp đến ở quê nhà và cộng các mùa hoa lại, họ biết đã ở đất Giao Chỉ bao nhiêu năm.

Một giai thoại được sách chép lại là Tết  Kỷ Dậu (1789), sau khi tiêu diệt 20 vạn quân xâm lược nhà Thanh ở Thăng Long, Quang Trung đã sai quân phi ngựa thần tốc ngày đêm mang một cành đào Nhật Tân vào Phú Xuân để tặng công chúa Ngọc Hân thay thiệp báo tin mừng chiến thắng và cành hoa đào tươi thắm cũng là lời nhắn gửi tình cảm tới người vợ yêu. Vì là giai thoại nên có thể thật và không thật, nhưng ít nhiều đều xuất phát từ hiện thực cuộc sống. Xâu chuỗi với chuyện hoa đào ở An Nam đô hộ phủ thì có thể đưa ra kết luận hoa đào ở Nhật Tân rất có thể có từ thế kỷ thứ 7.

Đào phai bây giờ vẫn còn ở Nhật Tân nhưng còn đào bích có từ bao giờ? Trong một bài đăng trên Báo Hà Nội mới số Xuân năm 1981 có đoạn: “Đầu thế kỷ 20 có một khách phương xa đem đến quán Trấn Vũ một cành đào bích, cụ thủ từ là Đồng Khuê thấy hoa đỏ thắm rực cả góc chùa, nhận thấy đây là giống đào quý hiếm bèn ghép vào gốc đào ta để giữ giống rồi sau đó giao cho hai người làng Nhật Tân là Đường Nguyên và Hương Việt.

Từ đó bích đào được dân làng Nhật Tân nhân rộng ra”. Đến Nhật Tân hỏi tung tích hai cụ Đường Nguyên và Hương Việt, nhưng vì chỉ có tên chữ, không có tên Nôm, nên không ai trong làng biết cụ Đường Nguyên và Hương Việt ở xóm nào. Khách phương xa đến quán Trấn Vũ nếu là người Việt Nam thì chắc hẳn phải có vùng đất nào đó ở miền Bắc có giống đào này. Tuy nhiên đến nay, không thấy sách xưa nói đến chuyện này. Nếu khách phương xa là người Trung Hoa thì có thể tin được vì từ xưa Trung Hoa đã có giống bích đào. Phải chăng bích đào ở Nhật Tân có nguồn gốc từ Trung Hoa?

Trước năm 1954, Nhật Tân có dinh Lẫm chuyên trồng đào nên còn gọi là dinh Đào. Dinh rộng chừng 5 ha trông ra hồ Tây. Tương truyền rằng ở đây có cây đào tổ. Ngoài dinh Đào thì dân cũng trồng ở những mảnh đất nhỏ và với dân số vài chục vạn người thì hàng vạn cành đào là đủ cung cấp cho thú chơi ngày tết của Hà Nội.

Ngày 10.10.1954, bộ đội về tiếp quản thủ đô. Đó là một ngày không thể nào quên với người Hà Nội và cả dân tộc khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam chấm dứt gần một trăm năm chiếm đóng mảnh đất hình chữ S. Tới tết ông Công, ông Táo, lác đác đã có nhà cắt đào mang vào phố và hớn hở về nhà. Nhưng những ngày sau thì mang đi lại mang về. Cả làng ngơ ngác. Đến 27 tết thì nỗi lo âu hiện ra trên nét mặt những người nông dân. Chợ hoa Hàng Lược đông hơn mọi năm nhưng lại ít người mua đào hơn. Dân làng không biết điều gì xảy ra và sau đó mới vỡ lẽ khi người đi chợ hoa bảo hoa đào là hoa của tư sản nên không ai muốn đón năm mới bằng thứ hoa của giai cấp vừa bị cách mạng lật đổ.

Người bán hoa nhớn nhác, người ở nhà thì nóng ruột khi không thấy con cháu về lấy thêm. Đến đêm ba mươi, người mua đào vẫn thưa thớt. Tết năm ấy nỗi buồn trùm lên Nhật Tân. Hoa đào ế chất đầy vườn. Sang năm 1955, dinh Đào bị phá sạch và người ta nuôi vịt nên có tên là trại Vịt. Một ngày, Chủ tịch Ủy ban hành chính Trần Duy Hưng về thăm nhà ở Xuân Đỉnh, đi qua dinh Đào quen thuộc với người Hà Nội, không thấy đào mà chỉ thấy vịt, ông ghé vào hỏi thăm mới biết chuyện. Ông khuyên mọi người quay lại trồng đào vì tin hoa đào là hoa của tư sản chỉ là tin đồn không căn cứ. Và cây đào hồi sinh ở Nhật Tân. Trước kia, đào chỉ được trồng ở một số diện tích nhất định trong làng và ở dinh cổ, sau do nhu cầu ngày càng lớn nên làng mới trồng trên đất lúa.

Người xưa hay ví người con gái xinh đẹp nhưng duyên tình trắc trở là “phận má đào”. Và đào Nhật Tân cũng có thân phận chẳng khác gì cô gái xinh đẹp kia. Năm 2001, dự án xây khu đô thị mới Ciputra liên doanh với nước ngoài triển khai thì cả ruộng đào nằm trong dự án nên bị thu hồi. Người sống chết với đào chết đứng, chạy ngược chạy xuôi gõ các cửa, báo chí lên tiếng nhưng thành phố đã quyết rồi... Và nhiều nhà âm thầm ra bãi sông Hồng gây dựng lại từ đầu. Một cú sốc nữa với đào Nhật Tân là năm 2006, năm đó chứng khoán là kênh thu hút rất đông người đầu tư, bỏ tiền vào mã nào cũng có ăn vì thế người ta kiêng màu đỏ và dân chứng khoán kiên quyết không trưng đào.

Bây giờ đào ngoài bãi rất đẹp, ấy là nhờ những người sống chết với loài hoa này, nhờ công lao và kinh nghiệm bao đời truyền lại. Đúng là những gì là của dân, thuộc về dân thì dân không bỏ dù ai đó muốn bỏ.

Bích đào hoa to, mỗi cụm chỉ độ dăm bông, mỗi bông có mười hai hay mười bốn cánh nhưng cũng có loại bông kép có tới ba hai cánh, loại này ít trồng vì không được người chơi ưa chuộng. Cánh bích đào dày có màu hồng thắm, xếp thành nhiều lớp bao bọc nhị vàng phía trong tỏa ra tua tủa, lá bích đào hình mũi mác màu xanh biếc, cành vươn thẳng đứng.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 - Kỳ 7 - Kỳ 8 - Kỳ 9 - Kỳ 10 - Kỳ 11 - Kỳ 12

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tiến (Thanhnien), internet