Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Nhắc đến Phú Yên chúng ta thường nhắc đền ghềnh đá dĩa nhưng hôm nay tôi sẽ dẫn bạn đến với một nơi cũng mang tên là “ghềnh đá” nhưng nó nằm giữa một vùng đồng bằng trù phú, giữa những cánh đồng lúa xanh ngắt một màu, đó là ghềnh đá ở xã Hòa Thằng huyện Phú Hòa tỉnh Phú Yên.

< Ghềnh đá trông như một bức trường thành che chắn cho những đồng lúa xanh tươi.

Từ trung tâm thành phố Tuy Hòa, theo quốc lộ 25 về hướng tây khoảng 8km, băng qua những cánh đồng bao la trù phú, bạn sẽ tới một điểm tham quan dân dã rất lạ. Đó là một ghềnh đá trải dài tới gần 1km ở xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa. Do địa tầng biến đổi, trải qua bao nhiêu thế kỷ “biển sâu hóa thành nương dâu”, đã hình thành nên những vạt đá răng cưa kỳ thú.

< Một phần của ghềnh đá trong nắng sớm mai.

Cách đây hàng triệu năm, khi đó nước biển còn dâng cao nên đã tao nên ghềnh đá, sau khi biển rút ra xa thì ghềnh đá đã dần hình thành với dáng vẻ ngày nay, không quá to lớn đồ sộ, không quá cao nhưng nó cũng đủ làm ta choáng ngộp trước vẻ đẹp của nó.

Ghềnh đá như sống lưng của con khủng long hóa thạch, những rìa đá, cột đá vươn cao giữa nền trời xanh, tạo nên thành trì vững chắc bao quanh những cánh đồng lúa mênh mông của thôn Mỹ Hòa.

Trông kỹ, ghềnh đá như một hòn non bộ khổng lồ nằm giữa những đồng ruộng xanh mướt. Thời gian ngắm ghềnh đá đẹp nhất là lúc bình minh, khi mà không khí còn hơi sương, ghềnh đá hiện lên thật đẹp, thật huyền ảo.

Khách du lịch có thể leo lên đến nơi cao nhất của ghềnh đá để ngắm cảnh, đứng trên nơi cao nhất: ta có thể ngắm cả một vùng trời bao la, đường chân trời là những dãy núi trùng điệp, bên dưới là những cánh đồng bạt ngàn, xa xa là ngọn Chóp Chài, ngọn núi ở phía Bắc của thành phố Tuy Hòa.

Theo dòng sử thi Sinh Nhã, họ tộc Chi La Bú của người Ê-đê Mơ-đua đã xem đây như chiếc cổng làng, là nơi dẫn lên vùng thượng đạo, miền núi non Tây Nguyên hùng vĩ, điệp trùng. Những rặng cây cột đá vươn cao giữa nền trời xanh, như thành trì vững chắc bao quanh những cánh đồng lúa bao la của thôn Mỹ Hòa.

< Xa xa là ngọn núi Chóp Chài ở thành phố Tuy Hòa.

Hòa Thắng còn có những ghềnh đá khác như: ghềnh Miễu, ghềnh Quan, ghềnh Dung, ghềnh Quýt, ghềnh Bồ, ghềnh Đuôi, ghềnh Do… với cấu tạo địa chất là các loại đá thạch anh như màu ám khói, màu sỏi, trắng đục hay tinh khiết. Trèo lên những mỏm đá cao, nhìn bao quát khắp một vùng xung quanh, du khách sẽ cảm nhận ghềnh đá Hòa Thắng không chỉ đẹp hùng vĩ, mà còn đằm thắm, dung dị với cánh đồng lúa êm đềm bên những rặng tre, làng xóm bình yên, lơ thơ làn khói bếp.

Hãy một lần đến với Ghềnh đá dù chỉ vài giờ để cảm nhận được nét thanh bình của miền quê này, để cảm nhận cái không khí trong lành nơi đây.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Hải Quan, Xinh Xinh

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Trà Linh (huyện Nam Trà My) là một xã vùng núi cao của Quảng Nam nổi tiếng với sâm Ngọc Linh và những bản làng Xê Đăng sương mù phủ kín quanh năm cùng sự khắc nghiệt vùng rừng núi cheo leo, dốc đứng.
Với những khách lữ hành, vùng sâm còn có sắc trời Sa Pa mù sương, cảnh đẹp của Đà Lạt mộng mơ xuân hạ thu đông trong một ngày.

Đi vào trong nók (thôn - PV), chúng ta như lọt thỏm giữa đất trời chập chùng sương giăng dưới những tán cây cổ thụ tầng tầng lớp lớp đan xen lẫn nhau. Những giọt sương nhỏ qua từng kẽ lá với tiếng kêu tí tách. Thi thoảng chợt thấy lạnh buốt khi từng cơn gió núi se lạnh lùa vào người, chạm vào những giọt mồ hôi sau chặng đường dài leo dốc.

< Chú chó dẫn đường vào nók.

Men theo con đường đá dựng đứng, trơn trượt hay lối đi hiểm trở, dốc cheo leo là những bụi hoa dại, cỏ non, rau rừng xanh đến miên man trong tiếng hú gọi của miền sơn cước. Núi rừng Trà Linh trong veo như ánh ban mai tỉnh giấc, hiền hậu khác hẳn sự nhọc nhằn, cô độc vốn thấy.

< Đắp bờ ruộng bậc thang.

Càng bước, đôi chân ta như chùn lại bởi những bản làng Xê Đăng dần hiện ra trong màn sương mờ ảo. Những cánh ruộng bậc thang nằm giữa lưng chừng núi thấp thoáng giữa trời cao, vực sâu. Có thể đưa tay ngắt cụm rau quen thuộc như diếp cá, rau má, rau mã đề đang là là quanh chỗ bạn ngồi, nhấm nháp vị đăng đắng trên môi hoặc vò nát những đọt chè xanh ngửi lấy mùi thơm nồng ngai ngái. Chợt thấy “thèm”!

< Mặc áo mưa chống... sương mù ra đồng.

Nhưng để đến với đỉnh sương mù bản làng Xê Đăng nằm ở phía lưng chừng trời kia còn phải thử sức với chính mình bằng đôi chân chắc khỏe và một ý nghĩ phóng khoáng để tiếp tục bước.

Bản làng Xê Đăng rất nhiều nók. Nók gần nhất tính từ trung tâm xã cũng phải đi bộ gần 1 giờ. Nók xa nhất cũng cả nửa ngày trời. Tất cả thử thách những đôi chân dẻo dai.

< Ruộng bậc thang sương mờ ảo.

Nók Tắt Tu là điểm dừng chân gần nhất. Mới bước đến đầu nók, những kho thóc của đồng bào lộ diện trước mắt. Trên đường vào nók, chúng tôi gặp những người dân nói cười giòn tan với giọng lơ lớ đáng yêu. Những cô bé, cậu bé đen nhẻm e thẹn không dám nói chào, cứ chạy lăng xăng khi nhìn thấy khách lạ.

< Cheo leo "ngõ đá".

Đón bình minh sớm mai trên đỉnh núi thật tuyệt!

365 ngày ở đây đều vắng mặt trời. Hình như người dân nơi đây đã quá quen với cuộc sống mờ mờ ảo ảo kỳ lạ này. Cửa ngõ vào nók sương mù chùng chình qua ngõ, giăng đầy lối đi, lấp kín từng khe cửa nhà, phủ  trùm từng mái nhà sàn nhỏ bé. Sương đặc quánh như chốn tiên cảnh bồng lai. Đứng dưới hốc cây, triệu triệu giọt sương li ti đầy trong vốc tay, nhỏ xuống người ướt đẫm.

< Thể thao vùng cao chỉ có bóng chuyền.

Đêm xuống, trong từng mái nhà sàn, bên ché rượu cần ấm nồng, những chàng trai, cô gái thỏa sức trong từng điệu hát, bước nhảy đắm say lòng người. Để rồi tất cả qua đi, chìm đắm trong men rượu, say tình, say nghĩa và say cả lòng người.

Hãy đến với bản làng Xê Đăng một ngày trọn vẹn, bạn sẽ được thưởng ngoạn, được ngao du, được thử thách với núi rừng, được yên lành trong ánh sương mai 24 giờ và để được thấy mình nhỏ bé giữa bao la tiếng gió ngàn Ngọk Linh Trường Sơn hùng vĩ.

Du lịch, GO! - Theo Dương Văn Út (TTO)

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Núi Long Phụng nằm ở phía Đông Nam xã Đức Thắng, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Núi có hai phần, một phần gọi là hòn Long là núi đá, một phần là hòn Phụng là núi đất., chạy dọc bờ biển theo hướng Nam – Bắc, hình thể tựa như con thanh long, đầu ngẩng cao ngó thẳng về hướng Tây.

Hòn Long cao khoảng 100m chủ yếu tạo thành bằng đá với cái chóp nhọn hoắc bằng một tảng đá trắng hiếm thấy trong vùng núi non Quảng Ngãi. Hòn đá màu trắng phủ trên đỉnh núi đứng xa xa trông cứ như là ngọn núi tuyết. Khi ánh mặt trời rọi xuống, ta thấy một màu trắng xóa như bạc, bởi thế người ta gọi là núi Đá Bạc.

< Núi Đá bạc, đầu Rồng thuộc dãy núi Long Phụng, xã Đức Thắng.

Hòn Phụng cao khoảng 40m là hòn núi đất nên lâu ngày bị bào mòn, thấp dần và cong cong như hình mu rùa. Hòn này cây cối mọc xanh um, có cư dân sống rải rác ở ven chân núi. Trên sườn núi là các thửa khoai, sắn, lang và các loại cây trồng khác. Trên đỉnh núi cây cối xanh tươi suốt bốn mùa, chụm lại thành cụm như vảy rồng, chạy dọc thành hàng như kỳ rồng dương lên khi đắc ý. Từ xa, ngắm nhìn dãy Long Phụng ta có cảm giác như đang ngưỡng mộ một con vật kỳ ảo giữa đất trời mênh mông.

Đứng trên “đầu rồng” ta có thể thấy bao quát một vùng rộng lớn của tỉnh Quảng Ngãi. Mặt Đông – Bắc, thấy đảo Lý sơn và dãy Ba Làng An. Nhìn xa xa phía Bắc là hòn Ấn và hòn Bút như một tiền án, trông lại gần thấy dòng sông Vệ như dải lụa bạch chạy quanh co giữa cánh đồng mênh mông, bát ngát mươn mướt như nhung.

Phía Nam, ta thấy xa xa núi chập chờn đến tận cửa Sa Huỳnh. Phía Đông là cát trắng và rừng dương trải dài, biển xanh, với những cánh buồm lô nhô lướt gió. Biển ở đây (gọi là biển Tân định vì thuộc thôn Tân định) địa thế núi nên rất đẹp nhưng nước sâu, khó tắm. Chốn này có ngôi chùa ông Rau nổi tiếng. Nhiều người từ Thị Xã Quảng Ngãi vẫn thường ghé chơi và tắm biển Tân định, tuy nhiên chưa được phổ biến lắm.

Đứng nơi này, ta nghe những âm thanh bất tận của đất trời: tiếng sóng rì rào hòa với tiếng vi vút của rừng dương như những khúc nhạc vang vọng từ rất xa xôi, nâng đỡ tâm hồn ta, dìu ta lạc vào một không gian huyền diệu.

Núi Long Phụng như một tấm lá chắn che sóng và gió biển cho cánh đồng Long Phụng tươi tốt, yên lành. Núi cũng là một cảnh đẹp thiên nhiên kỳ vĩ hiếm thấy của tỉnh Quảng Ngãi.

Du lịch, GO! - Theo iQNG.vn, internet

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Núi Gia Lào là một ngọn núi cao 800m thuộc tỉnh Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai, ngọn núi được nổi tiếng bởi sự linh thiêng của một ngôi chùa ngự trị trên đỉnh, và đường lên đỉnh núi cheo leo và xa tít tắp - nơi hằng năm hàng ngàn khách du lịch về đây bái Phật cầu an.

Núi Gia Lào là một ngọn núi đá, trên núi có rất nhiều cây dại, và hầu như không trồng trọt gì. Nhưng đây là một điểm vô cùng thu hút du khách đến đây bái Phật cầu an hằng năm. Cứ vào tháng 7 là đông khách đến đây nhất, đến cả hàng ngàn người lên núi thắp hương cúng vái, làm cho cả ngọn núi nghi ngút khói hương và nhộn nhip hẳn lên. Mỗi tháng rằm, người ta lại đến đây, mỗi năm mới, người ta cũng chọn ngôi chùa trên đỉnh núi Gia Lào để dâng hương bái Phật.

Ở trên đỉnh núi, có một ngọn chùa được xây dựng ở đây, và cũng rất nổi tiếng linh thiêng. Những gia đình có con cái, hay mong cầu bình an, họ đều khăn khói không quản khó nhọc leo 500m núi, vượt qua hằng ngàn bậc thang xa tít tắp để lên đến đỉnh thắp hương, mong rằng sẽ được như ý nguyện.

Núi Gia Lào không đẹp như bao ngọn núi khác, nhưng nó mang một vẻ hoang sơ. Những người không đi dâng hương thì đến đây thử cảm giác chinh phục ngọn núi cao thứ 2 ở miền Nam này.

Xung quanh đường lên đỉnh có rất nhiều cây cối mọc um tùm xanh mát rượt, đường lên đỉnh quanh co, nhỏ hẹp, từng bậc thang đá được xếp ngay ngắn nhưng dài tít tắp thử sức người leo. Để chinh phục ngọn núi này, bạn phải mất từ 1-2 giờ đồng hồ để leo đến đỉnh.

Hiện nay, khu vực xung quanh núi Gia Lào được mở rất nhiều quán ăn, giải khát để phục vụ người dâng hương, nên ngọn núi lúc nào cũng tấp nập người qua lại. Ở đó, bán rất nhiều đồ lưu niệm từ gỗ, vỏ sò, dây đeo, bùa bình an...đến những trái cây, mứt, thuốc, hương liệu, cho bạn than hồ chọn lựa.

Trên đỉnh núi, có ngọn chùa nằm cheo leo giữa các dốc đá, thanh tịnh và luôn nghi ngút khói hương. Và đặc biệt, núi Gia Lào nổi tiếng có cây ba gốc 1 ngọn. Tương truyền rằng, nếu cầu may ở dưới gốc cây này, mọi mong muốn của bạn sẽ thành hiện thực.

Trong dịp xuân hay những ngày rằm tháng 7 âm lịch, bạn đến đây sẽ thấy ngọn núi này rất đặc biệt. Không khí trong lành, khách du lịch ăn mặc tươm tất, mang rất nhiều lễ vật, hương hoa lên núi. Rồi có những người hái lộc đầu năm mang về, từng đoàn người lên, từng đoàn người xuống, nhộn nhịp cả tháng giêng hay trong dịp lễ hội.

Nếu bạn đã đến Đồng Nai một lần, thì đừng bao giờ bỏ qua cơ hội đến ngọn núi này thử sức khám phá độ cao của ngọn núi này nhé.

Du lịch, GO! - Theo VinaBooking

Núi Chứa Chan - chùa Gia Lào: Di tích lịch sử, danh thắng
Tuyệt tác trên đỉnh Chứa Chan

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Trong gió, trong mưa, lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng vẫn bay phần phật. Giây phút ấy, cứ như cả Tổ quốc đang sừng sững trong tâm hồn mỗi chúng tôi...

Tôi rất ấn tượng một đoạn văn trong bút ký Trở lại Mèo Vạc của nhà văn Nguyên Ngọc viết năm 1991: “... Rất đột ngột, bỗng thấy mình đã đứng trên một đỉnh cao chót vót, đỉnh cao nhất. Và trước mặt, một kỳ quan chưa từng thấy: không còn ngọn núi đất nào nữa. Chỉ còn toàn đá. Một cao nguyên đá. Mênh mông, trùng điệp, lô nhô, lởm chởm, cuồn cuộn hàng triệu đợt sóng đá dồn dập như những bức trường thành đá vô tận, nhọn hoắt, sắc lẹm, nham nhở, lở lói, khô cằn, khắc nghiệt... Đá, đá, đá bạt ngàn, hút chân trời. Đá vôi đen xỉn. Và tuyệt không còn gì khác. Cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc đấy.”

Tôi chỉ muốn nói thêm vào đoạn văn đã rất hay này của anh Nguyên Ngọc: còn, còn những nương ngô xanh ngắt mọc trùm lên những mặt núi đá khắc khổ. Còn, còn cột cờ Lũng Cú sừng sững hiên ngang trên đỉnh ngọn núi Rồng cao 1.700 m so với mặt nước biển, cột cờ trấn giữ điểm cực Bắc của Tổ quốc chúng ta.

Người ta nói, nếu hình dung đường biên giới Việt-Trung như một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất nằm ở A-pa-chải (Điện Biên), Sa Vĩ (Móng Cái), còn chóp là Lũng Cú. Và, tâm đỉnh của Lũng Cú chính là ngọn núi Rồng.

Cuối tháng 7.2012, khi tôi lên đây, cao nguyên đá Đồng Văn đã vào mùa mưa. Từ thị trấn Đồng Văn đi Lũng Cú chỉ khoảng 30 km, nhưng do đường quanh quất cua tay áo, và buổi sáng xe toàn chạy trong mây hay sa mù, nên chúng tôi phải đi mất hơn giờ đồng hồ mới tới.

Lúc chúng tôi dừng ở chân núi Rồng, trời nắng đẹp. Nhưng chỉ khoảng 5 phút sau, khi chúng tôi bắt đầu leo 389 bậc dẫn lên đỉnh núi nơi dựng cột cờ, trời đột ngột đổ mưa lớn. Mưa nắng thất thường có lẽ là một đặc điểm của vùng chót đỉnh cực Bắc này chăng? Không ai trong đoàn dừng lại hay bỏ cuộc. Chúng tôi đội mưa leo qua 389 bậc dẫn tới đỉnh núi.

Tại sao có con số 389 bậc?

Tối hôm trước, chúng tôi đã ngủ lại một đêm với các chiến sĩ Huyện đội Đồng Văn, chuyện trò rất khuya với đại tá Lê Trân - Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện. Anh Lê Trân mới “bật mí”, chính anh là tác giả của con số 389 bậc đá này: “Thông thường, khi tính con số đẹp, người ta hay chọn “9 nút”. Riêng tôi lại nghĩ: nhất chín, nhì bù. Đã đành, số 9 là con số đẹp nhất, nhưng số 10 lại tính thêm được phần “bù” của những người lính bảo vệ biên cương chúng tôi.

Khi cầm súng ở địa đầu Tổ quốc này, chúng tôi nghĩ cả đất nước luôn đứng đằng sau mình, luôn “bù” cho mình tất cả những tình cảm thiết tha yêu mến nhất. Cột cờ Lũng Cú tượng trưng cho ý chí và sự kiên định bảo vệ từng tấc đất từng mỏm đá của Tổ quốc, đó cũng là khát vọng của những người lính biên cương chúng tôi. Vì thế, tôi đề nghị với ban xây dựng Cột Cờ nên chọn con số 389 (bậc), một con số “tiến” và nếu cộng lại thì “tròn 10”. Đó là con số cuối cùng, tột đỉnh, như một lời thề”.

Khi đã đọc xong “lời thề” 389 bậc, và leo thêm 140 bậc thang xoắn ốc ngay trong lòng cột cờ, chúng tôi đã lên tới đỉnh Lũng Cú. Gió ào ạt. Mưa quất xối xả. Nhưng trong gió, trong mưa, lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng có diện tích 54 m2 - tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam - được cắm trên cán cờ cao 13 m vẫn bay phần phật.

Giây phút ấy, cả đoàn chúng tôi như ngập trong một trạng thái đặc biệt: cứ như cả Tổ quốc đang sừng sững trong gió trong mưa, đang sừng sững trong tâm hồn mình. Lá cờ thiêng vẫn tung bay phần phật, bất chấp thời tiết. Đó thực sự là một biểu tượng cho nước non mình, dù chịu bao khắc nghiệt đắng cay vẫn ngẩng cao đầu không khuất phục. Có một luồng năng lượng kỳ lạ nào chợt lưu chuyển trong tôi, khiến toàn thân đột nhiên ấm áp, mặc cho gió mưa quất tơi tả bốn bề.

Khi rời đỉnh Cột Cờ xuống chân núi, bỗng mưa tạnh. Nắng lên. Trời xanh ngắt.

Lũng Cú - tiếng H’Mông có nghĩa là “Long cư” - nơi cư ngụ của rồng. Còn theo một truyền thuyết của người địa phương, thì ở thời Tây Sơn, sau khi Hoàng đế Quang Trung đại thắng quân xâm lược phương bắc, ông đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn tại Lũng Cú, và cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi ầm vang xa đến bên kia biên giới cũng nghe được. Những hồi trống đĩnh đạc khẳng định chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc chúng ta. Và tên Lũng Cú còn có nghĩa là “Long Cổ” - tức trống của vua. Một truyền thuyết thật đẹp, và rất Việt Nam.

Khởi từ thời Lý Thường Kiệt, sau rất nhiều lần xây dựng lại và trùng tu, cột cờ quốc gia Lũng Cú mà chúng tôi chiêm ngưỡng hôm nay được hoàn thành ở lần nâng cấp sau cùng vào đúng ngày 2.9.2010. Đã nhiều lần, các vị chủ tịch nước Việt Nam đã lên thăm cột cờ Lũng Cú. Tôi rất thích bức ảnh chụp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đứng trên chót đỉnh cột cờ, phía sau có một vệ binh nghiêm trang bồng súng chào, cùng lời nói lịch sử của vị nguyên thủ quốc gia: “Phải giữ cho được từng tấc đất mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta!”. Không ở đâu hơn khi đứng trên đỉnh cột cờ Lũng Cú, chúng tôi thấm thía từng chữ của câu nói này. Vì trước mặt chúng tôi, rất gần, là biên giới, còn phía sau chúng tôi là trùng điệp mênh mang cao nguyên đá Đồng Văn.

Năm nay, bà con H’Mông ở Lũng Cú - Đồng Văn được mùa ngô. Những trái bắp mập mẩy, nặng trĩu tay cầm. Đã có biết bao mồ hôi đổ ra trên tầng tầng đá núi để được những trái ấy. Cũng như có biết bao xương máu đồng bào và liệt sĩ chúng ta đã đổ ra cho cột cờ quốc gia Lũng Cú đứng hiên ngang một dáng hình Tổ quốc. Nếu đất nước ta là một con tàu như nhà thơ Xuân Diệu đã hình dung, mũi tàu là mũi Cà Mau, thì cột cờ Lũng Cú chính là cột cờ ở đằng lái của con tàu. Uy nghiêm và điềm tĩnh phóng tầm mắt cảnh giác bao quát cả miền biên viễn cực bắc Tổ quốc.

Ngày Quốc khánh 2.9 năm nay, lại hiển hiện trong tôi cột cờ Lũng Cú, nơi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi một lần trong đời được đến viếng thăm, một lần được leo lên tới chót đỉnh.

Tôi coi chuyến đi về cột cờ Lũng Cú của mình như một cuộc hành hương, mà khởi đầu là Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên - Hà Giang, và kết thúc là một bữa trưa trong bản nhỏ của người H’Mông, nơi lần đầu tiên tôi được ăn ngon lành 3 bát mèng méng kèm dưa nương, trước ánh mắt thân thương của bà con người H’Mông.

Nghe nói, hầu như người dân H’Mông nào ở Lũng Cú cũng đều biết đánh trống đồng. Nhưng không chỉ biết đánh trống đồng, người H’Mông - những con người tự do như gió và bất khuất như đá mà tôi vô cùng kính phục - còn có biệt tài đánh giặc xâm lăng. Tôi đã gặp và nghe ở bản nhỏ ấy, trong bữa trưa mèng méng ấy câu chuyện về người dân bản này đã 3 lần đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc vào năm 1984.  Nhưng có lẽ, đó là câu chuyện dành cho một bài viết khác...

Du lịch, GO! - Theo Thanh Thảo (TN), internet

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Núi Phú Thọ (còn có tên núi Đá, núi Thạch Sơn) tọa lạc tại xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, cao chừng 60m so với mực nước biển.
Nằm cạnh cửa biển Đại Cổ Lũy, núi Phú Thọ như một đồn lũy thiên nhiên án ngữ cửa biển quan trọng bậc nhất tỉnh Quảng Ngãi.

Sở dĩ gọi là núi Đá vì trên núi có nhiều khối đá granit xám có kích cỡ và hình dạng khác nhau. “Nhất bộ dị trạng” (mỗi bước một đổi thay hình dạng) là cách nói diễn tả vẻ đẹp độc đáo của núi đá Phú Thọ ở mỗi góc nhìn, mỗi khoảnh khắc thời gian. Đây là cấm Bầm Buông, với những khối đá chồng hoặc xếp dọc bên nhau như có bàn tay sắp đặt của tạo hóa để thành đá Trống, đá Chuông, khi gõ vào phát ra chuỗi âm thanh trầm bổng diệu kỳ. Còn kia là gò Đá Trận, lô nhô đá nhỏ, đá to bên sườn đồi, ẩn hiện bóng cây, bóng lá.

< Đá Hòn Chồng.

Kỳ thú là chùa Hang thiên tạo với hai khối đá dựng lên làm trụ, đỡ một tảng đá lớn nhô ra phía trước trông tựa mái hiên. Rêu phong phủ đầy vách đá tạo nên vẻ u tịch hoang sơ. Giữa ngày hè nóng bức, hang đá mát rượi. Rễ cây đa cổ thụ lách qua kẽ đá dẫn từng giọt nước trong veo rơi tí tách xuống lòng hang. Tương truyền, ngày trước ở hang đá này, cứ đến rằm tháng 7 âm lịch có một con hổ to, lông đủ màu sắc, lặng lẽ xuất hiện trước sân chùa, chẳng mảy may làm kinh động đến người và muông thú, dân làng mến mộ gọi là “ông hổ đi tu”. Sách Quảng Ngãi nhất thống chí của tiến sỹ nho học Lê Ngãi viết về ngọn núi này như sau:

‘‘Núi Phú Thọ, ở phía Đông, cách huyện trị (Tư Nghĩa) 11 dặm, Đông giáp cửa bể Cổ Lũy, Tây liền với núi Bàn Cờ, Nam giáp Vũng Tàu, Bắc giáp sông Trà. Núi có những đá to mọc vút lên và nhọn trông như ngón tay trở lên. Đời Tự Đức đặt pháo đài ở đỉnh núi này để phòng giặc bể. Thiệt là một tòa núi đứng trấn cửa bể to.” (Quảng Ngãi nhất thống chí – bản Quốc ngữ, chép tay).

Đứng trên đỉnh núi Phú Thọ, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát một vùng thiên nhiên rộng lớn. Vào những buổi bình minh, khi mặt trời ửng hồng từ từ nhô lên trên mặt biển bao la cũng là lúc những con thuyền nan cửa Đại sau một đêm ngủ mơ trong giấc sóng bỗng khe khẽ cựa mình, chầm chậm nối nhau ra biển đón đoàn thuyền đánh cá trở về trong dìu dịu sương mai. Xa xa, hơi chếch về phía Bắc là mũi Ba Làng An. Xa hơn nữa, ghé về Đông, nhấp nhô trên sóng là cù lao Ré. Sông Trà Khúc bên kia, sông Vệ bên này ùa nước vào nhau để thênh thang cửa Đại.

Theo hồ sơ của Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi, phế tích thành Bàn Cờ trên núi Phú Thọ có hình thang cân, cạnh trên 52m, đáy 60m, cao 25m, diện tích mặt thành khoảng 500m2. Bờ thành Bàn Cờ vốn được xây bằng gạch. Trên mặt thành có tháp Chăm, nhưng nay đã bị phá, chỉ còn ngổn ngang gạch vỡ. Thành Bàn Cờ hợp với thành Hòn Yàng và lũy Cổ Lũy thành hệ thống phòng thành, bảo vệ thành Châu Sa (phía tả ngạn sông Trà Khúc), nên thường được các nhà chuyên môn gọi chung là hệ thống phòng thành Cổ Lũy.

< Phế tích Thạch Sơn tự trên đỉnh núi.

Cũng tại khu vực Cổ Lũy – Phú Thọ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều di tích thời tiền Champa, có niên đại từ thế kỷ III đến thế kỷ VII. Năm 2004, một cuộc khai quật đã được tiến hành. Trong hố khai quật hiện rõ các chân móng cột nhà lớn, có gia hạ bằng gạch vỡ và đá cuội. Hiện vật tìm thấy gồm các vật liệu kiến trúc (ngói lòng máng, gạch, chóp nóc...) và đồ gia dụng (nồi, hũ kendi, chân đèn, bát...). Các nhà nghiên cứu cho rằng, vật liệu kiến trúc ở đây (ngói lòng máng, đầu ngói ống trang trí mặt hề, chóp búp sen...) khá giống với các vật liệu tương tự ở Trà Kiệu, Thành Hồ...

Núi Phú Thọ, thành Bàn Cờ, thành Hòn Yàng còn gắn với nhiều giai thoại kỳ thú. Chuyện rằng, vào những đêm trăng thanh vắng, các nàng tiên trên thượng giới thường bay xuống thành Bàn Cờ mà ngắm cảnh, đùa trăng. Còn ở thành Hòn Yàng thi thoảng lại thấy “vàng Hời” chấp chới trong đêm như thể ma trơi.

< Cổ Lũy cô thôn.

Năm 1903, sau chuyến đi chầu hầu sang Pháp, Nguyễn Thân (1853 – 1914) xin về trí sĩ, bỏ quê cũ ở Thạch Trụ (Mộ Đức), chiếm cứ cả núi Phú Thọ và nhiều đất đai quanh vùng, xây dựng dinh cơ, đình tạ, đưa cả gia đình đến đây sinh sống, thỏa lòng dạ ham muốn công danh của một kẻ bán nước cầu vinh. Nhưng sự thể của gần 40 năm sau thì khác. Cuộc vùng dậy dữ dội và quyết liệt tháng 8 năm 1945 đã quật nhào bộ máy thống trị thực dân - phong kiến ở Quảng Ngãi và khắp cả nước. Trong cơn phẫn uất, người dân quanh vùng đã đập phá toàn bộ dinh cơ của Nguyễn Thân trên núi Phú Thọ.

Năm tháng đi qua, mặc cho những đổi thay nhân thế, núi Phú Thọ vẫn sừng sững trấn giữ một vùng hải khẩu; thôn Cổ Lũy vẫn còn đó dáng vẻ tịch mịch, u trầm của một làng quê trước biển sau sông đã đi vào tâm khảm bao thế hệ người Quảng Ngãi.

Núi Phú Thọ đã được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, tại Quyết định số 43- QĐ/VH ngày 7/1/1993.

Du lịch, GO! - Theo Lê Hồng Khánh (báo Du Lịch), internet

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

Mặc dù nằm trong danh sách "cần được bảo vệ", thằn lằn núi Bà Đen, Tây Ninh vẫn bị thợ săn ngày ngày càn quét. Và người ta dễ dàng ghé những quán dưới chân núi kêu một đĩa thằn lằn chiên dòn chấm mắm me hay một đĩa xào lăn lai rai cùng bia bọt mà người bán lẫn người mua không phải e ngại hay sợ bị bắt quả tang.

Trong đời, lần đầu tiên tôi được thưởng thức thịt dông ở vùng biển Duyên Hải nơi tôi dạy học trước đây. Tất nhiên, thời ấy cuộc sống còn nhiều khó khăn, cơm ăn tập thể với canh “toàn quốc” là chuyện hằng ngày. Nên đôi lúc tự dưng có được một ít món tươi nguyên là điều không thể cưỡng. Chỉ vài chục phút khom lưng là câu được vài chục con mập ú, nhất là cận những ngày hè, dông thường hay ra tổ kiếm mồi và đương nhiên bị làm mồi bởi lũ học trò nghèo muốn chiêu đãi thầy bữa thịt dông nướng mọi chấm muối ớt giữa biển trời lồng lộng.

< Chống cần câu leo lên núi Bà.

Nói chuyện con dông để tôi có cái cớ xoay qua chuyện con thằn lằn núi mà không phải sợ mắc tội phàm ăn, tiếp tay với nạn diệt chủng loài bò sát nằm trong danh sách đỏ của loài động vật hoang dã.

Chẳng qua tôi muốn tìm lại cái hương vị của ngày xưa vì đoan chắc rằng thịt dông hay thịt thằn lằn núi nướng mọi đều có chung một hương vị, giống như thịt ếch và thịt cóc vậy.

Cái hương vị này thật khó quên khi anh Tần - một thợ săn chuyên nghiệp ở xã Ninh Sơn lấy con thằn lằn núi trong giỏ xiên cây đũa tre nướng mọi cho tôi ăn thử.

< Thằn lằn núi còn nhỏ.

Thịt chín, chỉ cần dùng tay búng búng lớp da cháy đen, lộ ra từng sới thịt nhỏ vàng ươm bóng mờ từ lớp mỡ mỏng tang, bốc lên một mùi thơm khó tả.

Nhìn no con mắt, không vội ăn để nhớ lại cái vị ngọt bùi từ con dông của vùng quê duyên hải nghèo khó ngày nào. Từ từ bỏ vào miệng, nhâm nhâm từng chút một vì sợ miếng thịt nhỏ tan biến đi trên đầu lưỡi. Anh Tần hất hàm hỏi: “Thấy sao?”. “Ngon tuyệt cú mèo! Bảo sao dân thành phố không đánh hơi được, không ngại nắng bụi đường xa đến núi Bà để xơi bằng  được con thằn lằn núi”.

Anh lại lựa một con khác to hơn, nhưng tôi cản lại. “Để dành bán kiếm thêm tiền chợ. Hơn nữa nướng mọi như vầy mà không có muối ớt thì thiếu đi phần nào vị mặn cay của đời”. Từ sáng đến trưa, hai cha con anh di chuyển cả chục chỗ mới  bắt được khoảng 20 con.

< Lau xô sạch để làm mồi mới bẫy thằn lằn.

Với số thằn lằn này, anh cầm chắc trong tay được tám chục ngàn đồng cho một ngày kiếm sống. Anh bảo: “Đó là giá bán cho đầu mối thu mua, chứ giá nhà hàng dưới chân núi, phải trên một trăm hai chục ngàn. Cuộc sống bây giờ bắt đầu khó khăn rồi, dân bắt thằn lằn ngày một đông do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn...”

Tôi đếm sơ những người làm nghề như anh có đến khoảng hai chục người đang câu bắt rải rác khắp triền núi đá. Nhẫm tính một ngày cũng chừng ấy ký lô thằn lằn núi bị mất đi trong môi trường sống chỉ có ở núi Bà Đen. Anh Tần xoay qua nói tiếp câu chuyện bỏ lửng: “Cũng vô chừng, mùa nắng thì ít, chứ mùa mưa thì nhiều. Một ngày đầu mối thu mua có hơn 50 ký!”.

< Thằn lằn núi nướng mọi.

“Thế có lần nào bọn anh bị công an chặn bắt không?” Câu hỏi đột ngột khiến anh chau mày trong chốc lát. “Mấy chả đâu chịu khó đổ mồ hôi leo núi đi theo lục túi xét giỏ tụi tôi. Thỉnh thoảng có chiến dịch thì  đón lõng dưới chân núi, chờ thợ săn xuống vớ bở.

Anh xem, đường lên xuống núi đâu chỉ có con đường sáng nay tôi dẫn anh lên, vả lại hang hốc thiếu gì giấu đâu chẳng được. Hơn nữa, có bị tịch thu phạt vạ, ai biết mấy chả thả chúng về núi hay xơi tái hết không chừng.  Nếu không có người mua thì tụi tôi có bắt cũng đâu bán được. Đã cấm thì cũng phải cấm luôn người ăn. Quán xá dưới chân núi còn dám trương bảng “đặc sản thằn lằn núi” công khai thì cấm tụi tôi săn bán là chuyện không công bằng”.

< Một chú thằn lằn núi trưởng thành nặng khoảng 50g.

Điều anh Tần nói nghe rất chí lý nhưng suy cho cùng sao lại có thể cấm người ăn. Vấn đề này không nằm ở sự bắt buộc của luật pháp mà là ý thức con người sống trong môi trường. Dưới chân núi không chỉ một quán mà là nhiều quán đều có thực đơn thằn lằn núi chiên dòn, xào lăn tính theo con, mỗi con mười ngàn đồng.

Vào quán, bàn nhậu nào cũng có đĩa thằn lằn chiên bốc mùi thơm điếc mũi. Không chỉ có thực khách nam mà cả khách nữ cũng mạnh tay bóc con thằn lằn vàng rượm cho vào miệng nhai ngon lành. “Người chưa ăn lần nào thì thử cho biết. Biết rồi ghiền luôn cho mà xem!”, anh Tần nói nhỏ với tôi.

< Thằn lằn núi xào lăn

Quả thật món ngon khó quên là chuyện bình thường, nhất là những món hương đồng gió nội dễ khiến người ta đi tìm cái chất dân dã hay  hoang dã mà ngày xưa cha ông ta đi khai khẩn đất phương Nam gặp gì ăn nấy. Chỉ có điều ngày xưa con người thì ít, sản vật dưới sông, trên bờ, trong rừng thì nhiều nên việc thỏa thuê săn bắt cũng là cách tạo ra sự cân bằng sinh thái. Vấn đề là ở chỗ này.

Có lần tôi đã viết về chuyện con rắn chuông (nằm trong sách đỏ) ở vùng Abilien, Texas do tình trạng cấm săn bắt khiến số lượng rắn sinh sản vượt mức kiểm soát gây hại đối với đời sống người dân. Vậy là phải tổ chức bắt hay nói cách khác giết đi lấy thịt và mỗi năm vùng này đều có hai ba ngày lễ hội rắn chuông thu hút nhiều người từ khắp nơi đổ về đây săn bắt và thưởng thức thịt rắn chiên dòn.

< Thằn lằn núi chiên dòn trên bàn nhậu.

Rồi một ngày không xa, thằn lằn núi Bà Đen sẽ không còn nữa (theo cách quan sát của tôi). Môi trường sống của chúng đang bị đe dọa bởi việc đô thị hóa và khai phá vùng núi làm khu du lịch.

Thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng nổ ầm vang của công ty khai thác đá trên những triền núi xa mờ. Không bảo vệ được môi trường thiên nhiên hoang dã cho loài bò sát này sinh trưởng, thì đương nhiên chúng ta đang hủy diệt cuộc sống của thằn lằn núi.

Du lịch, GO! - Theo Ngọc Linh (Trenews), internet

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Được mệnh danh là “Đà Lạt của Bà Rịa – Vũng Tàu” (BR-VT), núi Dinh đang là điểm đến ưa thích của nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là giới trẻ và dân phượt.

Khám phá thiên nhiên

Nếu là dân phượt chuyên nghiệp hay là những người “ghiền” phượt thì cái tên núi Dinh đã trở nên quá quen thuộc. Bởi, đây là một trong những địa chỉ thường được dân phượt chọn cho những chuyến phiêu lưu mạo hiểm của mình.

Bằng những chiếc xe gắn máy, môtô, xe địa hình… từ TP.HCM, nhiều đoàn, nhóm đã có những trải nghiệm thú vị ở núi Dinh. Sau những chuyến đi, họ lại có những chia sẻ thú vị cùng mọi người trên các diễn đàn, facebook...

Cách TP.HCM khoảng 80km, núi Dinh thuộc địa bàn huyện Tân Thành. Hiện nay, giao thông và các phương tiện để đến được với ngọn núi này khá dễ dàng và thuận lợi. Do vậy, đây cũng là điểm thu hút du khách thời gian qua.

Giải thích về tên gọi núi Dinh, người dân địa phương kể, do khí hậu trên núi rất mát mẻ nên trước đây toàn quyền Pháp có xây dinh thự để nghỉ mát vì vậy sau này người ta quen gọi núi Dinh. Cũng có người cho rằng sở dĩ có danh xưng trên là để tưởng nhớ công ơn người đã có công khai phá là ông Nguyễn Văn Dinh. Núi Dinh được xem là ngọn núi cao và độc đáo nhất của tỉnh BR-VT. Di tích núi Dinh đã được công nhận là Di tích Lịch sử quốc gia năm 1993

Đường lên núi được trải nhựa phẳng lì, hai bên đường là những hàng cây xanh tỏa bóng mát, thỉnh thoảng lại có những khúc cua… tạo nên cảm giác khó tả. Chạy trên cung đường này, nhiều người đã trở thành những thi sỹ và nhớ về những câu thơ nổi tiếng một thời của Quang Dũng: ‘‘Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống – Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Không thật sự chạm trời, nhưng một bên là núi, một bên là đồng bằng làm nên một cung đường thật sự ấn tượng. Đây cũng là con đường mà dân phượt tỏ ra thích thú và được ví như những cung đường lên Đà Lạt… Dọc con đường này, có những hàng quán là nơi du khách có thể nghỉ ngơi, thư giãn để tiếp tục chinh phục ngọn núi Dinh huyền bí này.

Được xem là ngọn núi cao (khoảng 500m) và có nhiều câu chuyện bí ẩn trong ngọn núi này đã làm cho cái tên núi Dinh được nhắc đến nhiều trong thời gian qua. Giới trẻ thì tò mò về một điểm để phượt, khám phá núi rừng, thử thách cảm giác mạo hiểm, đặc biệt là vào ban đêm; còn khách du lịch lại muốn tận hưởng cảm giác “Đà Lạt của BR-VT”, tìm hiểu các di tích lịch sử, minh chứng cho một thời oai hùng như thế nào… Gần đây, một số du khách nước ngoài đã biết tới ngọn núi này và cũng khám phá bằng cách tự thuê xe gắn máy đến với núi Dinh. “Họ rất thích được khám phá những nơi như núi Dinh, vì ở đó họ có thể leo núi, cắm trại và thăm các di tích, chùa chiền”, Anh Phương, một hướng dẫn viên du lịch tại TP.HCM chia sẻ.

Điểm đặc biệt của ngọn núi này là có những “cảnh” rất ấn tượng và đẹp mắt. Đó là đỉnh Ông Trịnh, là suối Đá, suối Tiên… tạo nên bức tranh thủy mặc, có những nét chấm phá. Đây cũng là những nơi để những người thích, nhấn máy làm vài pô, lưu lại khoảnh khắc khi đặt chân đến ngọn núi này.

Những suối Đá, suối Tiên từ trên đỉnh núi Dinh chảy xuống, với dòng nước mát rượi cũng là nơi cho nhiều người đặt chân tới đây đắm mình trong làn nước trong. Tiếng suối chảy, chim hót ríu rít làm cho núi Dinh thêm hữu tình, kỳ thú.

Về suối Tiên, tương truyền, vào những đêm trăng sáng, các nàng tiên trên trời xuống hạ giới để du ngoạn. Qua dòng suối trong xanh này, các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới trở về trời. Có lẽ người xưa yêu cảnh trí nơi đây, một vùng non nước kỳ vĩ, sơn thuỷ hữu tình nên đã nghĩ ra câu chuyện này để đặt tên là suối Tiên.

Một thời oai hùng

Theo các tài liệu thì núi Dinh có hình cánh cung, chạy dài theo hướng Đông Nam - Tây Bắc. Đỉnh cao nhất là núi Ông Trịnh (trên 500m), phần còn lại thoải dần về hai phía. Đầu thế kỷ XX, ở đây là rừng nguyên sinh, với thảm thực vật nhiệt đới rất đa dạng. Dưới những tán rừng già là nơi cư trú của nhiều loài động vật.

Lợi dụng địa hình hiểm trở ở đây, cuối năm 1952, Thị ủy Bà Rịa đã bí mật chuyển căn cứ hoạt động từ rừng Sác, xã Long Sơn về núi Dinh. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, núi Dinh là cơ sở an toàn che chở cho các đơn vị vũ trang của thị xã Bà Rịa, huyện Châu Đức, Thị ủy Bà Rịa, Tỉnh ủy, Tỉnh đội Bà Rịa - Long Khánh… Từ căn cứ núi Dinh, những đội quân bất chợt tập kích vào các hang ổ của địch ở Nhà Tròn, cầu Long Hương, cầu Thủ Lựu, Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp… nhiều lần làm cho quân địch phải kinh hồn, bạt vía.

Căn cứ núi Dinh trải dài trên một diện tích rộng (khoảng 60km2), có địa hình phức tạp, hiểm trở, địch biết nhưng không thể nào tìm được nơi hoạt động cụ thể của lực lượng cách mạng. Có thể nói, mỗi hốc đá, mỗi lùm cây, một bờ suối đều tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ, chiến sĩ ta lập nên những kỳ tích anh hùng. Năm tháng qua đi, những địa danh như: Hang Tổ, Hang Dây Bí, Hang Mai, Bưng Lùng, Chùa Diệu Linh, Hang Dơi… vẫn mãi mãi ghi nhớ những chiến công, những kỳ tích hào hùng của quân và dân ta.

Hang Tổ: Nằm trên độ cao 200m, có nhiều hang đá rộng và sâu, đủ chỗ chứa hàng trăm người. Nơi đây là điểm dừng chân của cán bộ, chiến sĩ ta, là nơi chứa và cung cấp lương thực thực phẩm của Thị ủy, Thị đội Bà Rịa. Mùa xuân năm 1968, Hang Tổ là nơi tập kết lực lượng của bộ đội tỉnh Bà Rịa - Long Khánh trước lúc xuống đường tham gia cuộc tổng tiến công Mậu Thân.

Hang Dây Bí: Nằm trên độ cao 481m về phía Đông Nam núi Dinh, là căn cứ của Huyện ủy, Huyện đội Châu Đức. Địa hình ở đây nhiều vòm đá, phía trong là các hang động, có nguồn nước dồi dào chảy quanh năm, bên ngoài nhiều cây dây leo che kín. Hang nằm trên độ dốc khá cao, đường lên rất khó. Vào những năm 1965 - 1966, máy bay Mỹ đã dội xuống đây hàng trăm tấn bom đạn. Họ dùng cả máy bay lên thẳng thả biệt kích, dùng mìn cay, bơm hơi độc vào hang hòng tiêu diệt bằng được lực lượng cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ ta cố thủ, bám trụ trong hang sâu, chờ thời cơ tiến công tiêu diệt địch. Chính tại đây, ngày 30/10/1967, lực lượng Đại đội 34 huyện Châu Đức đã tiêu diệt 100 tên, bẻ gãy nhiều đợt tấn công để bảo vệ an toàn cho căn cứ.

Hang Mai: Nằm ở độ cao 234m về phía Tây Bắc, là một thung lũng lòng chảo, có hai con suối nhỏ chảy qua. Thiên nhiên tạo cho Hang Mai vẻ đẹp thơ mộng. Xung quanh hang có khá nhiều cây cối và những thảm cỏ xanh tươi thoang thoảng hương thơm của thảo mộc và ríu rít tiếng chim rừng. Năm 1968, sau khi phát hiện đây là nơi tập kết của lực lượng ta, địch đã dội bom hủy diệt toàn bộ căn cứ. Chúng còn đưa quân lên đây phá sập miệng Hang Mai. Những ngôi chùa lớn ở gần đó cũng bị phá hoại hoàn toàn.

Hang Dơi: Nằm ở độ cao 50m, gần với địa bàn dân cư nhất so với các căn cứ khác. Hang Dơi có hai ngách lớn, nhiều đường đi rất thuận lợi, miệng hang rộng và thoáng. Đây là nơi hoạt động của Thị ủy, Thị đội Bà Rịa trong hai thời kỳ kháng chiến gian khổ.

Bưng Lùng: Nằm ẩn mình giữa hai đỉnh núi Ông Trịnh và núi Dinh. Trong các căn cứ núi Dinh thì Bưng Lùng là nơi xa nhất. Từ năm 1961 đến 1967, Mỹ - ngụy ráo riết tìm diệt các căn cứ của ta nên cán bộ, chiến sĩ phải chọn căn cứ Bưng Lùng để bảo toàn lực lượng. Là một thung lũng khá bằng phẳng, xung quanh có rất nhiều cây lung (cây dong riềng) nên có tên gọi là Bưng Lùng. Bên các sườn dốc là bạt ngàn cây cổ thụ, tán lá rộng xum xuê tránh được sự trinh sát và bom đạn của địch. Cán bộ, chiến sĩ ta đào hầm chữ T và mắc võng ngủ trong hầm. Bưng Lùng là nơi đã đào tạo, rèn luyện các chiến sĩ của Thị ủy, Thị đội Bà Rịa và Thành đoàn Sài Gòn trước lúc về nội thành hoạt động.

Chùa Diệu Linh: Nằm trên độ cao 160m về phía Tây Bắc núi Dinh. Đây là nơi hoạt động của Thị ủy Bà Rịa trong những năm 1972-1975. Chùa Diệu Linh đã bị bom đạn địch làm đổ nát gần như hoàn toàn, chỉ còn lại chiếc tháp Tổ ba tầng.

Giờ đây, sức hấp dẫn của núi Dinh không chỉ là sự cuốn hút của thiên nhiên, lịch sử mà còn có cả nét cổ kính của không gian phật giáo ở nơi này. Bởi nơi đây còn là bản địa “Liên Tông Tịnh độ non bồng” – lâu nay phật tử gọi là chốn bồng lai. Với hơn 100 ngôi chùa nằm quanh núi, trong đó có những ngôi chùa được xây dựng cách đây hơn 300 năm như tổ đình Linh Sơn Cổ Tự, chùa Đại Tòng Lâm, chùa Tây Phương… với hàng chục pho tượng Phật đặc sắc, được đánh giá là trung tâm phật giáo lâu đời của vùng miền Đông Nam bộ, thu hút khách du lịch với vẻ đẹp tiềm ẩn và sự linh thiêng vốn có.

Du lịch, GO! - Theo Lê Vân Nhi (báo Du Lịch), ảnh internet