Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

Thành cổ Diên Khánh nằm cách TP. Nha Trang chừng 10km, địa phận khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh. Vùng đất xanh um cây trái này đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử, lưu lại trong lòng người nhiều giai thoại khó quên. Nổi bật nhất là Thành cổ Diên Khánh.

Thành Diên Khánh là một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban, một hình mẫu thành quân sự phổ biến vào thế kỷ XVII, XVIII ở Tây Âu và là thành thứ hai được đưa vào Việt Nam (sau thành Gia Định ở Nam Kỳ). Thành chiếm diện tích khoảng 36.000m². Tường thành hình lục giác dài 2.693m, 6 cạnh không đều nhau. Trên mỗi cạnh, tường thành lại chia ra nhiều đoạn nhỏ, uốn lượn nên các góc thành không nhô hẳn ra mà vẫn bảo đảm quan sát được hai bên.

Tường thành đắp đất cao chừng 3m50, mặt ngoài tường thành hơi dựng đứng. Mặt trong có độ thoải và được đắp thành hai bậc, tạo một đường vận chuyển thuận lợi ven thành.

Trên tường thành được trồng tre gai ken dày và các loại cây có gai khác vừa giữ độ bền cho tường thành vừa tăng chướng ngại cho đối phương như một hàng rào phòng ngự. Tại các góc:
- Về phía trong là một bãi đất khá rộng dùng làm nơi trú quân.
- Trên mặt thành là pháo đài góc, đắp bằng đất, cao khoảng 2m (công sự đặt đại bác).
- Bên ngoài góc được đắp hơi nhô ra có thể quan sát cả hai bên.

Bên ngoài thành là hào nước sâu khoảng 3 - 4m, có đoạn sâu tới 5m. Bề rộng mặt hào cũng không đều nhau, tại các góc thành thường hẹp hơn (chừng 15m) và rộng nhất là trước các cổng thành, chừng 40m, lòng hào thường xuyên đầy nước từ sông Cái dẫn vào. Bên ngoài hào nước đắp một đường đi - gọi là đường ngoài hào để tuần tra, vận chuyển, nhân dân gọi là đường quan phòng.

Đặc biệt, mặt Bắc thành giáp sông Cái thường bị xói mòn vào mùa mưa lụt do nước thượng nguồn tràn về, dâng cao, chảy xiết nên những người xây thành đã trồng nhiều cây gỗ sao - một loại cây có khả năng giữ đất chống xói mòn, sụt lở. Sao trồng thành hàng dày, nên nhân dân thường gọi là Hàng Sao. Sau đó, sao phát triển thành bãi chi chít và tới nay bị hủy hoại nhiều chẳng còn mấy nhưng tên Hàng Sao vẫn giữ nguyên.

Tên Hàng Sao không phai mờ trong lòng dân, khắc sâu vào tình cảm của mỗi người, lưu truyền qua bao thế hệ vì nơi đây bọn quan quân phong kiến và bọn ngoại bang cướp nước đã giết hại những người dân yêu nước, những chiến sĩ trong phong trào Cần Vương và đồng bào, đồng chí hoạt động cách mạng từ khi Đảng ta ra đời đến ngày toàn thắng 1975.

Khi xây dựng xong (1793) thành Diên Khánh có 6 cửa (cổng), 6 cạnh tường thành. Hiện nay chỉ còn lại 4 cửa: Đông, Tây, Tiền (Nam), Hậu (Bắc). Năm 1823, cửa Tả và cửa Hữu đã bị lấp, tới nay không còn dấu vết gì, tuy vậy ta có thể dự đoán hai cổng cũng nằm trên hai cạnh tường thành Tây Nam và Đông Nam.

Theo các tư liệu cũ, bên trong vòng thành có nhiều công trình kiến trúc độc đáo: Qua khỏi cửa Tiền (cửa chính ở hướng Nam) dành riêng cho nhà vua, hoàng tộc và các đại thần là một cột cờ lớn. Sau cột cờ là hoàng cung - công trình có quy mô lớn nhất so với các công trình khác.

Hoàng cung xây theo kiểu Điện Thái Hòa ở Huế, gồm ba gian rộng chừng 40m, xung quanh có hành lang rộng rãi, thoáng mát. Cột kèo được chạm trổ tinh tế, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Phần trên có cổ lầu, các mái và guột mái uốn cong thanh thoát. Trên nóc gắn hai con rồng chầu một quả cầu lớn.

Trước hoàng cung là một sân gạch lớn - gọi là sân chầu - nơi các quan văn võ trong tỉnh đứng chầu khi có lễ lớn. Vị trí đứng được ghi vào cái bảng gỗ, đặt thành hai hàng hai bên, theo thứ tự từ cửu phẩm lên nhất phẩm. Giữa hoàng cung đặt một bệ gỗ lớn 3 tầng, mỗi tầng cao hơn 0,20m. Trên cùng đặt một ngai vàng.

Bên trái hoàng cung là dinh Tuần vũ, sau đó là dinh Án sát, và sau nữa là dinh Lãnh binh, phía dưới là dinh quan Tham tri. Ngoài các dinh thự của các quan cai trị, trong thành còn có một dãy nhà kho đồ sộ chiếm hàng ngàn mét vuông và một nhà lao xây tường đá cao kiên cố. Tất cả các mái nhà đều lợp ngói âm dương.

Cổng thành là một công trình kiến trúc khối vuông vững chãi, xây bằng gạch nung cỡ 4,5cm x 1,38cm gồm 2 tầng: tầng dưới gắn liền với tường thành, mặt ngoài rộng 16,8m, cao 4,5m, xây thẳng đứng, mặt trong xây tường gạch cao khoảng 2m, cách mặt ngoài 2,5m để lèn đất vào giữa.

Cổng vào ra rộng 3,2m, xây gạch kiểu vòm cuốn hình quả chuông, đỉnh cao nhất khoảng 3,5m, cánh cổng bằng gỗ lim dày. Mặt tường trong xây cấp bậc bằng gạch, rộng hơn 2m làm lối đi lên tầng trên. Tầng trên cao ngang mặt thành, hình tứ giác mỗi chiều 1,5m, cao gần 2m, xây cổ lầu mái uốn cong, lợp ngói âm dương.

Hai bên xây ban công cao gần 1m. Đây có thể là nơi canh gác, quan sát trong, ngoài thành. Toàn bộ cổng thành không trang trí, tên cổng ghi bằng chữ Hán. Nhìn tổng thể, cổng thành mang dáng vẽ kiến trúc Á Đông thời ấy. Hiện nay, chỉ hai cổng Đông và Tây còn trọn vẹn.

Trải bao biến thiên lịch sử, trải bao biến cố thiên nhiên, vùng đất Diên Khánh, thành Diên Khánh không còn nguyên vẹn như trước, nhưng những gì mà thành Diên Khánh còn giữ lại được tới hôm nay vẫn khiến ta hình dung được dáng vẻ nguyên sơ về vòng thành khép kín với hào nước bao quanh.

Đặc biệt nhất là cổng thành hầu như còn nguyên vẹn. So với những thành quách xây dựng cùng thời, trừ thành Huế, thành Diên Khánh vẫn giữ được hình dáng từ gần 200 năm nay.

Du lich,GO! - Theo Báo Khánh Hòa, internet

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Cùng với hang Thẩm Khương (Tuần Giáo), Thẩm Púa (Mường Ảng) - nơi tìm thấy dấu vết của người Việt cổ, U Va thuộc xã Noong Luống, huyện Điện Biên là một trong không nhiều di tích khảo cổ hiếm hoi của tỉnh Điện Biên.

Những phát hiện gây xôn xao dư luận về khảo cổ hồi tháng 8.2003 tại U Va làm địa danh này thêm nổi tiếng. Bởi từ lâu lắm rồi, cái tên U Va đã xuất hiện trong những câu chuyện dân gian, sử thi và truyền thuyết của dân tộc Thái.
Nhưng, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả sự vô trách nhiệm và thiếu hiểu biết của con người, khu di chỉ khảo cổ độc nhất vô nhị miền biên viễn này dường như đã thực sự biến mất...

Vùng đất nhiều bí ẩn

Mường Thanh, đọc theo âm Thái là Mường Then, dịch theo tiếng Kinh có nghĩa là Mường Trời - là vùng đất đẫm màu huyền thoại, tương truyền đây là một trong những nơi phát tích của tổ tiên con người. Có một chi tiết thú vị, nếu như người Việt (Kinh) có truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, thì người Thái cũng có câu chuyện tương tự giải thích về sự ra đời của con người.

Vùng đất Mường Then huyền thoại có đến 2 địa danh gắn với sự xuất hiện của tổ tiên người bản địa Tây Bắc. Đó là bản Tẩu Pung thuộc xã Nà Tấu ở phía Đông Bắc, và hồ U Va thuộc xã Noong Luống ở phía Tây Nam huyện Điện Biên. Tẩu Pung tiếng Thái là quả bầu.

Theo truyền thuyết, từ quả bầu đó, người Thái và người Xá, người Kinh, người Lào và các dân tộc khác cùng các loài muông thú, hạt giống được sinh ra. Đáng chú ý, hiện nay ở xã Nà Tấu vẫn có bản Tẩu Pung, tọa lạc trên một ngọn núi có hình dáng rất giống như quả bầu. Còn hồ U Va thuộc địa phận xã Noong Luống, huyện Điện Biên là nơi hai sông Nậm Rốm và Nậm Núa gặp nhau...

< Dãy cọc cổ được phát hiện nằm dọc theo bờ ruộng. Khu vực này nay đã chìm dưới lòng hồ U Va.

Trong các câu chuyện dân gian, sử thi và truyền thuyết dân tộc Thái, ngày xưa, trời (Then) và mặt đất chỉ cách nhau vài sải tay, việc đi lại cũng thuận tiện qua cái thang làm bằng dây sắn rừng (Khau Cát). Và địa điểm để đặt chiếc thang dùng làm đường lên xuống giữa cõi trời và cõi người đó chính là U Va.

Sau này Then chặt đứt thang Khau Cát, cây đa nhà trời hùng vĩ, che lấp cả bản mường, nên các dũng sĩ đã đốn hạ. Cây đổ xuống tạo ra vết trũng hình thành nên hồ U Va. Dấu vết đường lên trời giờ chỉ còn lại hồ U Va, nơi có hai dãy núi Tạo Nón (chàng ngủ) và Náng Nón (nàng ngủ) sừng sững in bóng xuống mặt nước long lanh của hồ U Va đẫm màu huyền tích đến tận ngày nay...

Theo ông Trương Hữu Thiêm, một nhà nghiên cứu văn hóa Thái ở Điện Biên Phủ cho biết, thì hồ U Va còn có một giai thoại khác khá lãng mạn và mang tính nhân văn sâu sắc. Chuyện kể rằng, một cặp vợ chồng yêu thương nhau hết mực, chẳng may người vợ bị bệnh mất sớm phải trở về Mường Trời.

Nhớ vợ, người chồng hằng ngày theo lối đường cây đa và dây leo Khau Cát lên thăm vợ. Sợ chồng hay lên thăm sẽ bỏ bê công việc ruộng nương và để con bị đói, người vợ đã gạt nước mắt dùng rìu chặt đổ cây đa, cắt đứt đường lên trời. Khi đổ xuống, gốc cây đa biến thành hồ nước trong xanh, còn phần ngọn thì bay lên hóa vào mây trắng...

Địa danh U Va ẩn chứa nhiều bí ẩn, với nhiều câu chuyện được thêu dệt huyễn hoặc. Ngoài những giai thoại kể trên, U Va còn được coi là nơi tiễn biệt hồn người chết lên trời, với hai bãi đất bí ẩn, là “Khuống xao phi nọi” và “Khuống xao phi nhớ”. Hai bãi đất này theo người dân trong vùng thì nó rất... "thiêng", mỗi bãi rộng gần 1.000m2, điều kỳ lạ là hầu như chẳng có cây cỏ gì mọc được. Đàn trâu bò đi qua đây bao giờ cũng vội vã, dường như có một thứ gì đó vô hình thúc giục, xua đuổi chúng(?).

Cách trung tâm TP Điện Biên Phủ hơn 15km, hồ U Va hiện nay rộng chừng 7,3ha, mặt hồ bốn mùa bảng lảng sương khói bởi hơi nóng từ khe Bó Nậm Hòn. Hồi chưa san lấp, xây dựng khu du lịch suối khoáng U Va, nước từ khe Bó Nậm Hòn khá nóng, có thể luộc chín được trứng gà!


< Một số trống đồng được tìm thấy ở khu vực U Va, xã Noong Luống, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Điện Biên.

Phát hiện ra "mỏ vàng" có thể sinh lợi, năm 2003 Công ty Xổ số kiến thiết Điện Biên Phủ đã lập tờ trình và được UBND tỉnh Lai Châu cấp giấy phép cho xây dựng khu du lịch suối khoáng U Va. Và cũng từ khi khu du lịch nghỉ dưỡng này đi vào hoạt động, vùng đất nhiều huyền tích cùng với những di chỉ khảo cổ độc đáo vừa được phát lộ này lại tiếp tục chìm sâu dưới lòng hồ và bị vùi lấp dưới các công trình đồ sộ phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí (!?)

Những phát hiện khảo cổ gây chấn động

Cách đây hơn 8 năm, vào tháng 8.2003, những phát hiện mới của các nhà khảo cổ học ở U Va đã làm chấn động dư luận, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học. Như đánh giá của TS Vũ Thế Long, nguyên Trưởng Ban Nghiên cứu con người và môi trường - Viện Khảo cổ học Việt Nam thì: "Chấn động ở chỗ hóa ra vùng đất này xưa nay không chỉ tồn tại với những huyền tích, những câu chuyện cổ dân gian hay truyền thuyết của người dân tộc Thái mà nó thực sự hé lộ một nền văn minh ở vùng Tây Bắc nước ta".

Trong khi mở rộng diện tích, san lấp mặt bằng Khu du lịch suối khoáng U Va, những công nhân ở đây đã phát hiện nhiều hiện vật "lạ" tại 2 bãi đất có tên là “Khuống xao phi nọi” và “Khuống xao phi nhớ”.
Cuối tháng 8, nhóm chuyên viên khoa học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) gồm các nhà nghiên cứu Vũ Thế Long (khảo cổ học), Đinh Khắc Thuân và Nguyễn Ta Nhí (nghiên cứu Hán Nôm) đã phát hiện nhiều mảnh gốm có trang trí hoa văn lạ, một số mảnh sứ màu men ngọc tương tự như những mẫu sứ men ngọc đời Lý cùng một số mảnh chì nung chảy.

Tại rìa của bãi “Khuống xao phi nọi”, các nhà khoa học phát hiện một lớp đất màu đen có độ dày trung bình 50-60cm, bên trong có nhiều mảnh gốm sứ, là địa tầng của một nền văn hóa cổ. Phía chân đồi gần bãi “Khuống xao phi nhớ”, trong một chiếc giếng nước được đào sâu 5m, có nhiều đám thóc cháy, bình vò cổ bằng đất nung, cọc gỗ có chốt tre, lưỡi cày sắt. Ngoài ra, các công nhân còn phát hiện được nhiều dây chuyền, vòng và trâm cài tóc bằng kim loại đã bị gỉ sét, cái còn nguyên vẹn, cái đã bị đứt vỡ...

Trong lần trả lời phỏng vấn phóng viên mới đây, TS Vũ Thế Long, người có mặt trong lần khảo sát hồi tháng 8.2003 cho biết: "Khảo sát bước đầu ở U Va, chúng tôi cho rằng đây là di chỉ nơi cư trú của một nhóm cư dân cổ xưa lần đầu tiên được phát hiện ở Điện Biên; lại nằm trên một vị trí đặc biệt của vùng biên giới ba nước Việt - Lào - Trung Quốc nên nó không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc gìn giữ cương vực quốc gia.

Các hiện vật cho thấy nhóm cư dân ở U Va xuất hiện khá sớm, trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau; họ đã ở vào trình độ phát triển cao và có thể có những hoạt động giao thương với cả bên ngoài". Đặc biệt, theo TS Vũ Thế Long: "Những mẫu thóc cháy tại U Va là những hiện vật rất quý giá để tìm hiểu sự có mặt của cây lúa ở Mường Thanh, góp phần làm sáng tỏ lịch sử phát triển cây lúa ở Điện Biên cũng như lịch sử cây lúa vùng Đông Nam Á".

Hiện nay, ngoài một số được đưa về Bảo tàng tỉnh Điện Biên, dưới lòng hồ U Va vẫn còn nhiều cột gỗ bằng đầu chưa thống kê được (có thể là hàng trăm cái), cắm sâu xuống lòng đất, theo một đường thẳng hướng Đông - Tây.

Theo truyền thuyết thì đấy là "con đường" người xưa làm cho voi vượt qua đầm lầy. Nhận định này theo các nhà khoa học là có cơ sở, vì nó dựa trên 2 yếu tố: Một là theo truyền thuyết, thì đoàn quân do dũng sĩ Khun Bo Rom chỉ huy được Then (Trời) phái xuống trần đã hành quân bằng voi. Thứ hai, lật lại lịch sử, chính nghĩa quân Hoàng Công Chất (thế kỷ XVIII) cũng có cả một đội voi chiến tinh nhuệ, từng làm cho lũ giặc Phẻ thất kinh bát đảo, quân triều đình cử đi đánh dẹp phải nhiều lần thua trận...

Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Lai Châu (cũ) gồm 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu người ta đã tìm và phát hiện được 16 chiếc trống đồng cổ. Số trống này hiện đang được cất giữ trong Bảo tàng tỉnh Điện Biên. Nhưng điều đặc biệt, chỉ trong bán kính khoảng vài ba cây số quanh U Va, thuộc xã Noong Luống, người ta đã tìm được 5 trống (chiếm hơn 31%).

Cách đây chưa lâu, trong khi đào giếng lấy nước tưới trên núi Náng Nón (nàng ngủ), thuộc dãy Pú Chom Chảnh, ông Quàng Văn Cương đã vô tình phát hiện một cái trống đồng còn khá nguyên vẹn. Đây cũng là chiếc trống đồng được phát hiện gần đây nhất ở Điện Biên. Cái trống này nặng 17 kg, cao 44 cm, đường kính mặt 60 cm, đường kính đáy 50 cm; sau này được các nhà khoa học giám định và xếp vào giai đoạn chuyển tiếp giữa Hêgơ II và Hêgơ III, thuộc thời đại đồ đồng Đông Sơn.

Cách đây vài năm, người dân quanh khu vực thi thoảng vẫn đào được những vò, chum (có thể là đồ tùy táng), đập ra bên trong còn thu được nhiều hiện vật, như: trâm cài tóc, vòng bằng kim loại. Một người dân ở U Va đã từng vô tình đào được và đem bán đến 4 - 5 kg bạc trắng.
Đáng chú ý, khi trò chuyện với chúng tôi, TS Vũ Thế Long cũng tiết lộ rằng, thời điểm các nhà khoa học lên khảo sát khu di chỉ U Va, các thành viên trong đoàn đã được tiếp cận "kho" tư liệu sách cổ quý giá viết theo kiểu chữ Thái cổ của một số người dân trong vùng.

Lần giở những thư tịch cổ, trong quá khứ cánh đồng Mường Thanh từng là sa trường của nhiều cuộc chiến tranh liên miên, trước họa ngoại xâm cũng như những cuộc xung đột giữa các bộ tộc trong vùng.
Khu vực U Va là địa điểm giao giữa sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa, là nơi luyện tập thủy quân của nghĩa quân Hoàng Công Chất, là địa điểm diễn ra nhiều trận huyết chiến giữa nghĩa quân Hoàng Công Chất và triều đình, với nhiều cuộc tàn sát đẫm máu diễn ra ở đây. Chính vì thế mà người ta đồn thổi rằng 2 bãi đất trống “Khuống xao phi nọi”, và “Khuống xao phi nhớ” có quá nhiều hồn ma lảng vảng, và cỏ thì không bao giờ mọc được(?!).

Bảo vệ di chỉ U Va: Muộn rồi nhưng không thể không làm?

Như các nhà khoa học đánh giá, khu di chỉ khảo cổ hiếm hoi U Va là một tài sản quý giá, góp phần khẳng định giá trị lịch sử ở Điện Biên Phủ, làm sáng tỏ nhiều huyền tích, truyền thuyết dân gian của người Thái ở Mường Thanh.

Từ các câu chuyện truyền miệng trong dân gian, đến các thư tịch, rồi các công trình nghiên cứu; từ việc phát hiện tình cờ đến những cuộc tìm kiếm chủ động... đều chứng tỏ một điều rằng khu vực Noong Luống (mà trung tâm là hồ U Va), là điểm khảo cổ tập trung, chứa đựng vô số những bí ẩn thời trung - cận đại.
Việc phát hiện các di chỉ khảo cổ - văn hóa ở U Va, thêm một bằng chứng khẳng định chủ quyền cương vực của nhà nước phong kiến Việt Nam, đối với vùng Tây Bắc trong quá trình cha ông ta dựng nước và giữ nước.

Tuy nhiên, vì sự thiếu hiểu biết, hay vì chạy theo lợi ích kinh tế, một số cơ quan và hữu quan của tỉnh Lai Châu (cũ) đã "bỏ qua" những khuyến nghị của các nhà khoa học, để rồi vội vã triển khai xây dựng Khu du lịch suối khoáng U Va. Khu di chỉ nhanh chóng bị lãng quên, một số hiện vật phát hiện và thu thập được đem về "đắp chiếu" và dường như đang bị lớp bụi thời gian bao phủ tại Bảo tàng tỉnh đến tận bây giờ.

Theo bà Trịnh Thị Mai, Phó Giám đốc phụ trách Bảo tàng tỉnh Điện Biên thì đến tận thời điểm này (11.2011), do chưa có điều kiện và kinh phí nên khu di chỉ U Va vẫn chỉ dừng ở những phát hiện ban đầu.
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cũng như Bảo tàng tỉnh Điện Biên cũng chưa có thêm động thái mới về "số phận" khu di chỉ này, ngoài việc bảo quản và cất giữ hiện vật. Ngoài một số chiếc cột được đưa về cất giữ ở Bảo tàng tỉnh, những cây cột cổ cắm sâu dưới lòng đất giờ đây lại im lìm chìm sâu dưới lòng hồ khu du lịch suối khoáng.

Để phát huy thế mạnh du lịch, thiết nghĩ bên cạnh một loạt những việc phải làm, thì việc khoanh vùng, đầu tư nghiên cứu và trả lại cho U Va tồn tại đúng với những giá trị của nó là việc nên làm, dù biết đến thời điểm này xem ra cũng đã muộn.

Du lịch, GO! - Theo VTC News, internet

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Nằm trên đường 9 huyền thoại, di tích sân bay Tà Cơn thuộc xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị là điểm dừng chân quen thuộc với du khách trong và ngoài nước trên hành trình khám phá “tour DMZ” (du lịch vùng phi quân sự).

< Du khách nước ngoài tham quan chiếc máy bay vận tải CH-47 trưng bày trong khuôn viên di tích sân bay Tà Cơn. Đây là loại máy bay chuyên vận chuyển người, vũ khí và lương thực trong những năm lính Mỹ tham chiến ở Khe Sanh.

Những ngày đầu tháng 9, lượng khách nước ngoài tham quan di tích sân bay Tà Cơn dường như đông hơn. Họ là những cựu binh Mỹ hay những du khách đến từ các nước Anh, Úc, CH Czech… tham quan để biết và hiểu thêm về cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân Việt Nam.

< Chiếc máy bay vận tải hạng nặng C130 của quân đội Mỹ tham chiến năm 1972 được trưng bày trên bãi cỏ sân bay Tà Cơn.

Khu di tích còn khá đơn sơ với năm chiếc máy bay (loại C130, UH-1,CH-47… ), ba chiếc xe tăng còn nguyên vẹn hoặc đã tan xác, hoen gỉ trưng bày trên những bãi cỏ. Đây là những máy bay, xe tăng mà quân đội Mỹ từng dùng tham chiến tại chiến trường Khe Sanh - Tà Cơn cách đây hơn 40 năm.

< Trực thăng lên thẳng UH-1, loại máy bay cơ động được lính Mỹ sử dụng nhiều nhất trong chiến tranh Việt Nam và chiến trường Khe Sanh.

Một nhà bảo tàng về đường 9 - Khe Sanh trưng bày những hình ảnh, vũ khí của lính Mỹ, lính quân đội chế độ cũ và quân giải phóng.

< Cận cảnh một chiếc xe tăng Mỹ tại chiến trường Khe Sanh.

Một bia đá tạc ghi chiến công lịch sử được dựng sau hàng chục loại bom mà quân đội Mỹ đã ném xuống miền tây Quảng Trị trong những năm 1965-1972. Kế đó, những công sự hầm hào, đài chỉ huy, đài liên lạc… được phục dựng trong khuôn viên sân bay cũng đang khẩn trương hoàn thành.

< Xác một máy bay của Mỹ từng tham chiến tại Quảng Trị.

Cách bố trí, phục dựng di tích của sân bay Tà Cơn hiện nay còn khá khiêm tốn, nhưng phần nào cũng giúp du khách hình dung về một thế phòng ngự liên hoàn, cơ động được quân đội Mỹ và lính chế độ cũ coi là một vị trí “cứng”, cơ động nhất trong cả hệ thống tập đoàn cứ điểm Khe Sanh.

< Một số trang bị của quân giải phóng miền Nam.

Toàn sân bay giống như một lòng chảo với bốn bề là núi non - vốn là những điểm đặt hệ thống hỏa lực lý tưởng, lại cách con đường 9 huyết mạch chưa đầy 3km.

< Du khách nước ngoài tham quan những trang bị, vũ khí sót lại của lính Mỹ trong nhà bảo tàng đường 9 - Khe Sanh.

Thế nhưng trước sức mạnh tiến công giải phóng Khe Sanh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tà Cơn đã trở thành chiếc ghế điện đối với liên quân của đối phương. Ngày 26-6-1968, quân Mỹ buộc phải mở đường máu rút khỏi Khe Sanh - Tà Cơn.

< Du khách CH Czech tham quan hệ thống hầm hào của lính Mỹ được phục dựng tại sân bay Tà Cơn.

Sau những thăng trầm dâu bể, ít ai có thể ngờ một nơi từng là nỗi khiếp đảm, là “địa ngục trần gian” đối với lính Mỹ đã trở thành những vườn cà phê ngút ngàn, những bãi ngô và lạc mơn mởn xanh.

“Thật kỳ diệu. chiến tranh đã qua đi, nhường chỗ cho hòa bình và sự sống đang từng giờ từng phút nảy nở trên mảnh đất này” - một Việt kiều CH Czech đã tâm sự với tôi như thế khi tham quan di tích nổi tiếng này.

< Những loại bom Mỹ ném xuống miền tây Quảng Trị những năm 1965-1972.

Cách TP Đông Hà khoảng 65km và cách cửa khẩu Lao Bảo khoảng 20km về phía nam, nằm trong tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, sân bay Tà Cơn từng là một cụm cứ điểm quân sự chiến lược của quân đội Mỹ trong những năm 1966-1968.

< Người dân xã Tân Hợp trồng ngô và lạc, tận dụng những khu đất rộng rãi trong sân bay.

Địa danh này từng gắn với nhiều chiến tích trong chiến dịch giải phóng Khe Sanh năm 1968 và gắn với câu nói nổi tiếng chua chát của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James R. Schlesinger: “Tuy chúng ta đã ném cả danh dự nước Mỹ ra để giữ (Khe Sanh) và buộc hội đồng tham mưu trưởng liên quân cam kết bằng máu, nhưng cuối cùng cũng phải rút chạy”.

Du lịch, GO! - Theo Tiến Thành (Dulich Tuoitre)

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Trong tâm thức của tôi, Cát Tiên hiện lên như một oai linh nơi rừng thẳm đầy ma lực và trong một chuyến phiêu lưu, tôi tìm về vùng thánh địa - một địa danh đặc quánh huyền thoại mà mãi đến bây giờ báo chí vẫn đang tốn khá nhiều giấy mực.

Những cung đường dẫn đến miền đất cổ

Từ Cù Lao Phố, Biên Hòa, chúng tôi xuôi theo quốc lộ 13 đến Lái Thiêu, Bến Cát rồi dừng chân ở huyện Chơn Thành. Chơn Thành - một cái tên nghe rặt Nam Bộ. Người miền Nam cổ, không biết vì lý do gì thường hay né thuật ngữ có âm tự ơn phía sau, ví dụ như chân đọc là chơn, nhân đọc là nhơn. Chơn Thành nay thuộc tỉnh Bình Phước, là một địa danh quan trọng về mặt địa lý đối với miền Đông Nam Bộ.

Với diện tích 390km2, phía Bắc là đất đỏ, phía Nam là đất xám bạc, Chơn Thành hội tụ được thổ nhưỡng kép, theo các nhà địa lý, những nơi như thế thường là vùng địa linh.

Theo truyền thuyết, vào đầu thế kỷ thứ 19, chúa Nguyễn Phúc Ánh đã cát cứ vùng đất này để tiến về tấn công thành Gia Định nhưng bị quân Tây Sơn bao vây, ông thoát được nhờ bà con địa phương giúp đỡ bảo vệ. Vì vậy, sau này lên ngôi, vua Gia Long nhớ thuở hàn vi của mình nên đặt tên là Chân Thành như để trả ơn.

Rồi vào những năm 60 và 70 của thế kỷ 20, Chơn Thành là nơi đặt tổng hành dinh một sư đoàn của chế độ cũ và một đại bản doanh sư đoàn kỵ binh của đội quân viễn chinh khác. Sau ngày đất nước thống nhất tại đây cũng là điểm giao thương của hai quốc lộ 13 và 14.

Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước huyện lỵ này dân cư thưa thớt, nhưng bạt ngàn cỏ Mỹ, vào mùa khô loại cỏ rãi hạt từ máy bay này chuyển màu nâu sạm đến nhức mắt, chỉ cần một que diêm là cả vùng chìm trong biển lửa, và cứ thế cỏ tái sinh như dòng đời của một bộ tộc không có văn tự. Bây giờ Chơn Thành trở nên giàu có nhờ các loại cây công nghiệp như cao su và điều, đã có ba khu công nghiệp lớn mọc lên trên vùng đất đầy cỏ Mỹ này.

Tại Chơn Thành, chúng tôi rẽ sang quốc lộ 14, con đường chiến lược ở phía Tây Tổ quốc dài 890km bắt đầu từ đây và kết thúc tại cầu Đakrông thuộc tỉnh Quảng Trị, đây là quốc lộ có chiều dài thứ hai đứng sau quốc lộ 1. Dọc theo đường 14 là những cánh rừng cao su bạt ngàn, chúng tôi vượt qua những nơi đông đúc dân cư, những khu công nghiệp rồi dừng chân ở ngã ba Sao Bọng thuộc huyện Bù Đăng, Bình Phước. Địa bàn huyện này phần lớn diện tích nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Bù Đăng là quê hương của sóc Bom Bo, một thời được nhắc đến nhiều nhờ bài hát đi cùng năm tháng của cố nhạc sĩ Xuân Hồng. Bài hát được minh họa thêm vũ điệu của các sơn nữ Stiêng giã gạo suốt đêm với những ngọn đuốc bập bùng để kịp thời mang ra tuyến lửa. Âm điệu và nội dung của bài gần như đánh thức cả nước cũng như bạn bè quốc tế về cuộc chiến tranh nhân dân của Việt Nam.

Bù Đăng bây giờ là vương quốc của hồ tiêu và những rừng điều bạt ngàn. Tại ngã ba Sao Bọng thuộc xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng có đường rẽ phải, đó là con đường độc đạo nối liền Bình Phước - Lâm Đồng và cũng là con đường dẫn vào vùng thánh địa. Sao Bọng là tên của một cây sao bị hư phần lõi nhưng cây vẫn đứng sừng sững ở ngã ba nên gọi là ngã ba Sao Bọng. Cây sao bây giờ không còn nữa, nhưng người ta vẫn dùng tên của nó đặt cho khu vực này.

Dân cư sống tại đây nguồn thu nhập chính là cao su, hồ tiêu và điều lộn hột. Khi chúng tôi đến đang là mùa thu hoạch điều. Điều là loại cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao nhưng chỉ lấy hột không sử dụng quả. Tại các vườn điều, những quả chín màu vàng tươi hay màu đỏ bầm rụng xuống nằm lăn lóc dưới đất, chẳng ai buồn nhặt. Chúng tôi cảm thấy xót, rồi tự hỏi tại sau các nhà khoa học, những tiến sĩ về nông học không tìm cách chế biến quả điều chín mọng ngọt lừ mang mùi hương tươi nguyên này ra một loại thương phẩm nước uống khác, vì số lượng quả chín chiếm gần 98% giá trị hàng hóa của điều.

Chuyện ở cửa rừng vào thánh địa

Tại quán cà phê ở ngã Sao Bọng, lúc chúng tôi mở bản đồ xác định chiều dài con đường để tìm vào di tích Cát Tiên, một người đàn ông tự mình mang ly cà phê sang bàn chúng tôi chào hỏi và góp chuyện. Ông ta tự giới thiệu tên là Năm Hoành. Ông Hoành trên 50 tuổi, vóc người cao lớn, râu tóc dài, da ngăm đen với đôi mắt sâu kỳ bí như người rừng ở triền núi Hymalaya. Sau khi tự giới thiệu đôi nét về mình, ông Hoành kể cho chúng tôi nghe chuyện dài nhiều tập về Cát Tiên bằng âm sắc của một mẫu người giang hồ từng trải đã đến giai đoạn “gác kiếm”.

Uống phần cà phê cuối cùng còn đọng ở đáy ly, ông từ tốn: “ Trong những lần có dịp ra quán nước ở ngã ba này, tôi được gặp nhiều người, họ là nhà văn, nhà báo, nhà khảo cổ hay những du khách tây ta vì tính tò mò tìm đến vùng Cát Tiên để tìm hiểu về thánh địa, nhưng phần đông họ chỉ đến đó để xem xét xin tài liệu ghi chép, chụp ảnh rồi hối hả ra về. Cuối cùng là những bản sao chép hay câu chuyện kể một chiều, người đọc chả thấy có điều gì mới xuất hiện.

Xin nói với các ông rằng, khu Cát Tiên nơi mà các ông sắp đến, chỉ là phần nổi của thánh địa. Tôi đã sống gần cả đời ở trong rừng để đãi vàng và truy tìm đền đài cổ tại 4 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương và Lâm Đồng thuộc đầu nguồn sông Đạ Đờng.

Tôi là người không được học nhiều như các ông, nhưng là người trực tiếp đào bới tìm vàng sa khoáng trong rừng, thời trai trẻ của tôi trải dài ở chốn rừng sâu nước độc, quanh năm ngủ dưới những bóng cây già nên gần như thuộc lòng những địa danh có đền đài và vàng sa khoáng, thỉnh thoảng làm người dẫn đường cho những ai có máu phiêu lưu mạo hiểm đánh bạc với niềm hy vọng. Nhưng những người tôi biết, hầu như không thấy ai trở nên giàu có, chưa nói là bỏ mạng ở giữa rừng.

Thực ra thánh địa Cát Tiên rất rộng có thể rộng hơn 719km² của vườn quốc gia Cát Tiên, bắt đầu từ ngã ba sông Bé đến Phú Giáo ngược về Bù Đăng. Ở phía Tây Bắc Đồng Nai, tại phân trường 3 lâm trường Hiếu Liêm, phân trường 2 lâm trường Vĩnh An và phân trường Lý Lịch của lâm trường La Ngà còn đầy di vật của người xưa. Nhất là địa phận ở lâm trường Vĩnh An dọc theo suối Samat có khá nhiều ngôi đền cổ, mỗi ngôi đền đều nằm gọn trong lòng các ngọn đồi nhỏ mang hình bát úp cách nhau vài chục mét liên tục như cánh đồng Chum hạ Lào. Có ngôi đền nằm trong hang đá, khi chúng tôi mò vào lạnh buốt cả người, ở phía xa cách vài bước chân trong hốc đá xuất hiện vài cái đầu con trăn đất bằng nắm tay le lưỡi chực chờ.

Những đền đài nằm trong lòng đất tại các nơi tôi nói chỉ có tượng thần Siva bằng đá huyền vũ, kích thước bằng bắp tay con người, nặng khoảng 10 ký, thỉnh thoảng đào được vàng nhưng rất hy hữu. Những cổ vật mà chúng tôi nhặt được đã thay thông điệp của người xưa khẳng định rằng nơi đây từng là nơi của một vương quốc hoặc là lãnh địa tôn giáo của người xưa, đó là chuyện có thật.

Và cuối cùng như các ông đã thấy, những người từng đi săn tìm kho báu như chúng tôi sau này đều bị trả giá ở thời hậu vận. Tôi khuyên các ông khi đến thánh địa hãy dóng lên hồi chuông bảo tồn, nếu được hãy phục chế lại để tiền nhân và con cháu còn nhớ một thời cổ sử đã trải qua những năm tháng rêu phong hay sương gió bào mòn. Khi đến thánh địa, đừng lấy nhầm bất cứ cổ vật gì mang về để rồi phải trả giá vào cuối đời như tôi, hãy nhớ lời khuyên của một vị thánh nhân ngày trước đến bây giờ vẫn còn giá trị tươi nguyên là: Cái gì của César hãy trả lại cho César”.

Chúng tôi biết ông “người rừng” này nói thật, vì những thuật ngữ và phong cách diễn đạt mang phong cách của người có học, từng trải đã từng theo những canh bạc núi rừng của một thời trai trẻ. Ông lịch sự chào chúng tôi rồi lặng lẽ bỏ đi, để lại những tia mắt đầy lửa như thách thức. Nhìn dáng đi và cách nói đầy thần khí của ông như một vị chỉ huy đã từng chiến bại. Trong đời thường, những bại tướng khi về già thường sống thật, vì có thêu hoa dệt gấm hay cường điệu thêm điều gì để đánh bóng cho mình cũng là người thua trận. Nhưng chính họ là người để lại đời sau những kinh nghiệm xương máu, ông “người rừng” đã dạy chúng tôi bài học vỡ lòng đầu tiên trước khi vào thánh địa.

Thánh địa Cát Tiên có thật mà như huyền thoại

Sau khi trải qua chặng đường dài 297km hiện trên xe máy, chúng tôi đến cầu dây Phước Cát đoạn bắc qua sông Đạ Đờng cũng là ranh giới của 2 tỉnh Bình Phước - Lâm Đồng. Vào tháng 6 tại xã Phước Cát mưa như trút nước, Cát Tiên là vùng đất cuối cùng của Nam Tây Nguyên nên thường gánh chịu mưa gió và lũ lụt, những cơn mưa trắng trời xối xả cả tuần, sau đó đối mặt với những cơn lũ từ nước sông tràn lên như muốn xóa sổ sự sống con người.

Dòng sông Đạ Đờn những năm gần đây nước đổ về đỏ ngầu như sông Hồng. Chỉ cách đây vài năm, con sông này nước vẫn còn xanh trong, điệp theo màu của rừng núi mà bây giờ đã chuyển sang màu lạ. Tôi hỏi những người dân địa phương, họ chỉ tay xuống những chiếc xà lan chở cát đang oằn mình chạy dưới sông với tiếng máy nổ phành phạch như muốn phá vỡ không gian tĩnh lặng của núi rừng. Dân địa phương cho biết do những xà lan hút cát đã bức tử dòng sông. Họ đã làm sụp đất mất vườn, mất nhà cửa của một số hộ dân sống ven bờ.

Theo hướng chỉ tay của một cư dân địa phương, chúng tôi nhìn thấy cả cây dừa lẫn cây điều sum sê một nửa thân cành, rễ đứng chênh vênh bên bờ sông sẵn sàng đổ ụp xuống trôi theo dòng nước bất cứ lúc nào. Vì lợi nhuận, con người thường giải bài toán cơm áo trước mắt mà không nghĩ đến hệ quả cũng như các đền tháp cổ, người ta đã đập phá đào bới tìm vàng bạc mà không nghĩ đến di sản của tiền nhân để lại. Bên ngoài mưa vẫn rơi như trút nước, bầu trời đen kịt. Biết không thể chờ đươc nữa, chúng tôi khoác áo mưa mò mẫm tìm đường vào nhà trọ ngay khu thánh địa.

Dọc theo tỉnh lộ 721, những quả đồi mang hình bát úp không cao đều đặn chạy theo hình cánh cung ôm cánh đồng lúa xanh rì. Ở phía bên kia con sông nhuộm màu đỏ bầm là cánh rừng già nguyên sinh, một ngọn đồi cao sừng sững giữa thung lũng được bao bọc bởi sông Đạ Đờn là trung tâm thánh địa Cát Tiên.

Cô Đinh Thị Chung, hướng dẫn viên của di tích dẫn chúng tôi trèo 185 bậc đá lên tận đỉnh đồi tháp. Nhìn những bức tường bằng gạch dày cả mét nằm xếp chồng lên nhau đổ nát với những cánh cửa làm bằng đá huyền vũ dày 40cm diện tích 6m2 nằm chênh vênh, bên trong chính diện là tượng của Linga và Yony bóng loáng thấy cả mặt người đã khiến cho hậu thế phải chạnh lòng. Vương quốc xưa nào đã ngự trị nơi đây mà bây giờ thành quách đền đài trở thành hoang phế.

Ở phía mặt tiền đền tháp sâu thẳm là dòng sông Đạ Đờn uốn lượn với tiềng thác đổ rì rầm như hơi thở của người xưa còn vang vọng đâu đây, gai óc chúng tôi nổi lên hình tượng một thời oanh liệt của triều đại vương quyền. Cách tháp chính vài trăm mét là những ngôi đền nằm rải rác, cũng bằng những viên gạch to bản xếp chồng lên nhau tang thương như những con người cố ôm giữ báu vật để gìn giữ chống chọi với thời gian và tham vọng của con người.

Thánh địa Mỹ Sơn, di tích chính của văn hóa Chămpa ở Quảng Nam do người Pháp phát hiện vào năm 1885. Đúng 100 năm tức là năm 1985, Cát Tiên do người Việt phát hiện. Vị trí của hai thánh địa này có nhiều điểm tương đồng như cổng tháp được quay về hướng Đông để nhận ánh mặt trời, cùng nằm ở thung lũng được bao bọc bởi dòng sông và những ngọn đồi bát úp. Cả hai thánh địa đều bị điêu tàn nhưng đây đó vẫn còn sót lại những mảng điêu khắc mang dấu ấn hoàng kim.

Điểm khác của Cát Tiên là mang đậm dấu ấn tôn giáo Bàlamôn, các nhà khảo cổ cho rằng nơi đây từng là một đô thị tôn giáo cổ xưa, được kiến tạo trong giai đoạn lịch sử không thành văn. Vì vậy di tích Cát Tiên ra đời trong thời kỳ nào, thuộc phong cách nghệ thuật nào, chủ nhân là ai... là những câu hỏi mà suốt từ khi phát hiện qua bốn lần khai quật đang vẫn còn tranh luận.

Các đền tháp ở Cát Tiên dựa theo bình đồ vuông giật cấp nhiều lần, trong 20 đền tháp và đền mộ đều có kiến trúc và uy nghi giống nhau nhưng tất cả đều mang dáng dấp của Ấn Độ giáo vươn lên trong hình thái vương quyền và thần quyền liên kết để trị quốc. Trong 4 lần khai quật đã tìm được 1.100 hiện vật trong đó có 265 phù điêu bằng vàng được người xưa gò mảnh mai phóng khoáng, hòa nhập vào nhau. Các cổ vật còn lại được chế tác với nhiều chất liệu khác nhau như đá huyền vũ, đá thạch anh, đất nung đỏ... Điểm nổi bật là những bộ sinh thực khí Linga-Yony được xem là lớn nhất Đông Nam Á với đường kính của Linga 0,7m, cao 2,1m và Yony làm bệ đỡ cho Linga hình vuông rộng 2,26m.

Cô Chung, người thuyết minh của di tích Cát Tiên, giải thích về hai ngẫu vật này: “Theo truyền thuyết, ngày xưa khi trời đất vào xuân cũng là mùa sinh sản của cây cối cũng như con người. Vào lúc ấy, tín đồ từ các nơi khác đến thánh địa để dự lễ hội. Trên sân gạch rộng trước đền, tín đồ bước vào hai căn nhà gạch, nữ một bên và nam một bên, tại đây họ trút bỏ mọi thứ bụi trần, trút bỏ quá khứ thân phận. Khi bước ra sân đền tham dự nghi lễ, giữa khung cảnh thâm u của đại ngàn, hòa với tiếng gào thét của dòng sông, họ trở về nguồn cội thuở hồng hoang thành những con người bình đẳng của thời nguyên thủy.

Những đứa trẻ sinh ra trong dịp lễ hội này được xem là con của thần sáng tạo Brama, thần bảo tồn Vishu và thần hủy diệt Shiva. Chúng sẽ trở thành những người canh giữ đền thiêng, những tu sĩ nam nữ hiến thân cho tôn giáo phồn thực của dân tộc mình. Sau đó đoàn người xếp hàng tuần tự thành kính đi vòng quanh đặt tay lên Linga và hôn lên ngẫu tượng. Họ múc nước thần chảy từ lỗ thoát qua khe Yony dội lên đầu, té nước ướt hết thân mình, cầu cho sự tốt tươi mùa màng, cầu xin cho con cái loài người nảy nở nhiều như cỏ tranh trên cánh đồng, như măng tre măng nứa giữa mùa mưa… Chính vì vậy, khu di tích Cát Tiên được các nhà khảo cổ xếp loại là thánh địa của tôn giáo.

Theo các nhà khảo cổ, những gì khai quật được chỉ là phần nhỏ trong quần thể di tích. Giá trị văn hóa và những bí ẩn đầy sức hấp dẫn của vùng đất thiêng này không kém gì thánh địa Mỹ Sơn. Và để bảo tồn di sản cha ông, Bộ Văn hóa Thông tin đã giải ngân đợt một 400 triệu để làm công tác bảo vệ và hiện đang lập dự án 137 tỉ để trùng tu. Nơi đây một lần nữa chứng minh rằng người Việt luôn luôn giữ gìn tôn tạo di sản văn hóa của các dân tộc anh em như là của cha ông mình. Trong tương lai sẽ là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về miền đất huyền thoại có thật của tiền nhân.

Du lịch, GO! - Theo Cảnh sát toàn cầu, internet
Trong gió, trong mưa, lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng vẫn bay phần phật. Giây phút ấy, cứ như cả Tổ quốc đang sừng sững trong tâm hồn mỗi chúng tôi...

Tôi rất ấn tượng một đoạn văn trong bút ký Trở lại Mèo Vạc của nhà văn Nguyên Ngọc viết năm 1991: “... Rất đột ngột, bỗng thấy mình đã đứng trên một đỉnh cao chót vót, đỉnh cao nhất. Và trước mặt, một kỳ quan chưa từng thấy: không còn ngọn núi đất nào nữa. Chỉ còn toàn đá. Một cao nguyên đá. Mênh mông, trùng điệp, lô nhô, lởm chởm, cuồn cuộn hàng triệu đợt sóng đá dồn dập như những bức trường thành đá vô tận, nhọn hoắt, sắc lẹm, nham nhở, lở lói, khô cằn, khắc nghiệt... Đá, đá, đá bạt ngàn, hút chân trời. Đá vôi đen xỉn. Và tuyệt không còn gì khác. Cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc đấy.”

Tôi chỉ muốn nói thêm vào đoạn văn đã rất hay này của anh Nguyên Ngọc: còn, còn những nương ngô xanh ngắt mọc trùm lên những mặt núi đá khắc khổ. Còn, còn cột cờ Lũng Cú sừng sững hiên ngang trên đỉnh ngọn núi Rồng cao 1.700 m so với mặt nước biển, cột cờ trấn giữ điểm cực Bắc của Tổ quốc chúng ta.

Người ta nói, nếu hình dung đường biên giới Việt-Trung như một chóp nón, thì hai điểm thấp nhất nằm ở A-pa-chải (Điện Biên), Sa Vĩ (Móng Cái), còn chóp là Lũng Cú. Và, tâm đỉnh của Lũng Cú chính là ngọn núi Rồng.

Cuối tháng 7.2012, khi tôi lên đây, cao nguyên đá Đồng Văn đã vào mùa mưa. Từ thị trấn Đồng Văn đi Lũng Cú chỉ khoảng 30 km, nhưng do đường quanh quất cua tay áo, và buổi sáng xe toàn chạy trong mây hay sa mù, nên chúng tôi phải đi mất hơn giờ đồng hồ mới tới.

Lúc chúng tôi dừng ở chân núi Rồng, trời nắng đẹp. Nhưng chỉ khoảng 5 phút sau, khi chúng tôi bắt đầu leo 389 bậc dẫn lên đỉnh núi nơi dựng cột cờ, trời đột ngột đổ mưa lớn. Mưa nắng thất thường có lẽ là một đặc điểm của vùng chót đỉnh cực Bắc này chăng? Không ai trong đoàn dừng lại hay bỏ cuộc. Chúng tôi đội mưa leo qua 389 bậc dẫn tới đỉnh núi.

Tại sao có con số 389 bậc?

Tối hôm trước, chúng tôi đã ngủ lại một đêm với các chiến sĩ Huyện đội Đồng Văn, chuyện trò rất khuya với đại tá Lê Trân - Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện. Anh Lê Trân mới “bật mí”, chính anh là tác giả của con số 389 bậc đá này: “Thông thường, khi tính con số đẹp, người ta hay chọn “9 nút”. Riêng tôi lại nghĩ: nhất chín, nhì bù. Đã đành, số 9 là con số đẹp nhất, nhưng số 10 lại tính thêm được phần “bù” của những người lính bảo vệ biên cương chúng tôi.

Khi cầm súng ở địa đầu Tổ quốc này, chúng tôi nghĩ cả đất nước luôn đứng đằng sau mình, luôn “bù” cho mình tất cả những tình cảm thiết tha yêu mến nhất. Cột cờ Lũng Cú tượng trưng cho ý chí và sự kiên định bảo vệ từng tấc đất từng mỏm đá của Tổ quốc, đó cũng là khát vọng của những người lính biên cương chúng tôi. Vì thế, tôi đề nghị với ban xây dựng Cột Cờ nên chọn con số 389 (bậc), một con số “tiến” và nếu cộng lại thì “tròn 10”. Đó là con số cuối cùng, tột đỉnh, như một lời thề”.

Khi đã đọc xong “lời thề” 389 bậc, và leo thêm 140 bậc thang xoắn ốc ngay trong lòng cột cờ, chúng tôi đã lên tới đỉnh Lũng Cú. Gió ào ạt. Mưa quất xối xả. Nhưng trong gió, trong mưa, lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng có diện tích 54 m2 - tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam - được cắm trên cán cờ cao 13 m vẫn bay phần phật.

Giây phút ấy, cả đoàn chúng tôi như ngập trong một trạng thái đặc biệt: cứ như cả Tổ quốc đang sừng sững trong gió trong mưa, đang sừng sững trong tâm hồn mình. Lá cờ thiêng vẫn tung bay phần phật, bất chấp thời tiết. Đó thực sự là một biểu tượng cho nước non mình, dù chịu bao khắc nghiệt đắng cay vẫn ngẩng cao đầu không khuất phục. Có một luồng năng lượng kỳ lạ nào chợt lưu chuyển trong tôi, khiến toàn thân đột nhiên ấm áp, mặc cho gió mưa quất tơi tả bốn bề.

Khi rời đỉnh Cột Cờ xuống chân núi, bỗng mưa tạnh. Nắng lên. Trời xanh ngắt.

Lũng Cú - tiếng H’Mông có nghĩa là “Long cư” - nơi cư ngụ của rồng. Còn theo một truyền thuyết của người địa phương, thì ở thời Tây Sơn, sau khi Hoàng đế Quang Trung đại thắng quân xâm lược phương bắc, ông đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn tại Lũng Cú, và cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi ầm vang xa đến bên kia biên giới cũng nghe được. Những hồi trống đĩnh đạc khẳng định chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc chúng ta. Và tên Lũng Cú còn có nghĩa là “Long Cổ” - tức trống của vua. Một truyền thuyết thật đẹp, và rất Việt Nam.

Khởi từ thời Lý Thường Kiệt, sau rất nhiều lần xây dựng lại và trùng tu, cột cờ quốc gia Lũng Cú mà chúng tôi chiêm ngưỡng hôm nay được hoàn thành ở lần nâng cấp sau cùng vào đúng ngày 2.9.2010. Đã nhiều lần, các vị chủ tịch nước Việt Nam đã lên thăm cột cờ Lũng Cú. Tôi rất thích bức ảnh chụp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đứng trên chót đỉnh cột cờ, phía sau có một vệ binh nghiêm trang bồng súng chào, cùng lời nói lịch sử của vị nguyên thủ quốc gia: “Phải giữ cho được từng tấc đất mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta!”. Không ở đâu hơn khi đứng trên đỉnh cột cờ Lũng Cú, chúng tôi thấm thía từng chữ của câu nói này. Vì trước mặt chúng tôi, rất gần, là biên giới, còn phía sau chúng tôi là trùng điệp mênh mang cao nguyên đá Đồng Văn.

Năm nay, bà con H’Mông ở Lũng Cú - Đồng Văn được mùa ngô. Những trái bắp mập mẩy, nặng trĩu tay cầm. Đã có biết bao mồ hôi đổ ra trên tầng tầng đá núi để được những trái ấy. Cũng như có biết bao xương máu đồng bào và liệt sĩ chúng ta đã đổ ra cho cột cờ quốc gia Lũng Cú đứng hiên ngang một dáng hình Tổ quốc. Nếu đất nước ta là một con tàu như nhà thơ Xuân Diệu đã hình dung, mũi tàu là mũi Cà Mau, thì cột cờ Lũng Cú chính là cột cờ ở đằng lái của con tàu. Uy nghiêm và điềm tĩnh phóng tầm mắt cảnh giác bao quát cả miền biên viễn cực bắc Tổ quốc.

Ngày Quốc khánh 2.9 năm nay, lại hiển hiện trong tôi cột cờ Lũng Cú, nơi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi một lần trong đời được đến viếng thăm, một lần được leo lên tới chót đỉnh.

Tôi coi chuyến đi về cột cờ Lũng Cú của mình như một cuộc hành hương, mà khởi đầu là Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên - Hà Giang, và kết thúc là một bữa trưa trong bản nhỏ của người H’Mông, nơi lần đầu tiên tôi được ăn ngon lành 3 bát mèng méng kèm dưa nương, trước ánh mắt thân thương của bà con người H’Mông.

Nghe nói, hầu như người dân H’Mông nào ở Lũng Cú cũng đều biết đánh trống đồng. Nhưng không chỉ biết đánh trống đồng, người H’Mông - những con người tự do như gió và bất khuất như đá mà tôi vô cùng kính phục - còn có biệt tài đánh giặc xâm lăng. Tôi đã gặp và nghe ở bản nhỏ ấy, trong bữa trưa mèng méng ấy câu chuyện về người dân bản này đã 3 lần đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc vào năm 1984.  Nhưng có lẽ, đó là câu chuyện dành cho một bài viết khác...

Du lịch, GO! - Theo Thanh Thảo (TN), internet

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Am Chúa nằm trên lưng chừng núi Đại An (còn gọi là núi Dưa), thuộc thôn Đại Điền Trung, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh. Am Chúa là nơi thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na – Bà Mẹ xứ sở đã khai sáng và truyền dạy cho dân chúng cách làm ăn, sinh sống.

Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Y A Na được bắt nguồn từ tục thờ Bà Ponagar của người Chăm. Hay nói đúng hơn, những người Việt đến định cư ở đất này đã Việt hóa tục thờ Bà Mẹ xứ sở của người Chăm bằng truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na giáng trần tại núi Đại An và hiển thánh ở Tháp Bà – Nha Trang.
Đến nay, ở Khánh Hòa vẫn lưu truyền câu nói: “Am Chúa hiển nhân, Tháp Bà hiển thánh” như một lời khẳng định về sự nối liền giữa di tích Am Chúa với Tháp Bà Ponagar.

Am Chúa được xây dựng năm nào không rõ, nhưng trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay am đã là một nơi thờ phụng trang nghiêm, tôn vinh huyền sử về Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Đường lên Am Chúa với hơn 100 bậc tam cấp đã được lát đá hoa cương. Sau khi qua cổng tam quan, du khách sẽ đến Am Chúa. Cấu trúc của Am Chúa có bái đường và chính điện. Trên nóc bái đường và chính điện đều có đắp nổi hình tứ linh “Long, Ly, Quy, Phụng”.

Ở gian bái đường còn đắp nổi đôi câu đối bằng chữ Hán ghi lại sự tích Bà Thiên Y A Na. Giữa chính điện là khám thờ Bà Thiên Y A Na, 2 bên thờ tả, hữu ban liệt vị. Tại Am Chúa vẫn còn giữ được nhiều sắc phong của triều đình nhà Nguyễn, trong đó có sắc phong của vua Tự Đức cho phép thờ phụng Bà Thiên Y A Na là “Hồng Nhơn phổ tế linh cảm diệu thông, Mặc tướng trang huy thượng đẳng thần”. Điều đó phần nào cho thấy giá trị văn hóa của Am Chúa đã được khẳng định từ xưa.

Hàng năm, vào những ngày đầu tháng 3 (âm lịch), lễ hội Am Chúa được tổ chức, thu hút lượng khách hành hương rất lớn. Với nhiều nghi lễ cổ truyền như múa bóng, hát văn, tế lễ… lễ hội Am Chúa đang bảo tồn nhiều giá trị văn hóa tinh thần mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa của xứ Trầm Hương.

Không chỉ là di tích LSVH lâu đời, Am Chúa còn gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân xã Diên Điền nói riêng và huyện Diên Khánh nói chung. Hiện nay, trước sân của am vẫn còn một cây mã tiền cổ thụ có tuổi thọ trên 350 năm. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cây mã tiền nhiều lần được dùng làm cột treo cờ để biểu dương lực lượng, khơi dậy truyền thống yêu nước của nhân dân. Sau lưng Am Chúa còn lưu lại dấu vết của lô cốt, giao thông hào bằng đá do thực dân Pháp xây dựng trong những năm chiếm đóng tại đây.

Với nhiều giá trị văn hóa và lịch sử cách mạng, năm 1999 Am Chúa đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích LSVH quốc gia. Hiện nay, Sở VHTT đang lập dự án trùng tu tôn tạo Am Chúa với nhiều hạng mục: trùng tu am chính, xây dựng hệ thống điện nước, làm đường nhựa lên chân núi Đại An… Dự kiến, kinh phí của dự án trùng tu, tôn tạo Am Chúa là hơn 10 tỷ đồng. Hy vọng, từ dự án này, di tích LSVH Am Chúa sẽ phát huy được giá trị văn hóa truyền thống, ngày càng thu hút du khách đến với xứ Trầm Hương.

Du lịch, GO! - Theo BarSaigon, Báo Khánh Hòa

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Cuốn Sơn là tên cổ, dân gian thường gọi núi Cấm hay Ngũ động Sơn (thuộc thôn Quyển Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam). Trong lòng núi có năm động liên hoàn kéo dài hàng trăm mét, ăn sâu vào trong.

Lối vào động ở trên cao, nhìn ra mặt sông đáy. Lối ra nằm ở bên kia vách núi, do vậy không khí trong động rất thoáng mát. Bên cạnh đó là đền Trúc dưới chân ngọn Thi Sơn, nơi thờ danh tướng Lý Thường Kiệt, phía trước có dòng sông đáy hiền hòa chảy qua. Tất cả tạo nên quần thể di tích – danh thắng rộng hơn 10ha, linh thiêng và thơ mộng.
Chuyện xưa kể lại, năm đó, Lý Thường Kiệt đem quân đi bình định phương nam. Vào một buổi chiều thuỷ quân của ngài đến địa phận Canh Dịch Trại thì gặp trận cuồng phong. Gió dữ bẻ gẫy cột cờ và cuốn lá cờ đại lên đỉnh núi.

Thấy điềm lạ, Lý Thường Kiệt cho neo hạm đội dưới sông rồi lên bờ xem xét. Ngài gọi núi ấy là núi Cuốn Sơn, đổi tên Canh Dịch Trại thành Cuốn Sơn thôn, biện lễ tế cáo trời đất. Ngài đặt đàn tế trong rừng trúc, gần ngôi đền thờ hai mẹ con bà hàng nước. Nửa đêm, hai mẹ con bà hiện lên báo mộng, xin cùng đi theo âm phù đánh giặc.

Khi chiến thắng trở về, Lý Thường Kiệt dừng quân lễ tạ; xin vua phong bà hàng nước là Mẫu Hậu, cô con gái là Công Chúa và sửa sang đền thờ. Hằng năm, Lý Thường Kiệt đến lễ tạ âm thần, cho mời dân làng mở hội mừng chiến thắng. Tức cảnh sinh tình, ngài còn sáng tác nên làn điệu hát dặm vừa tình tứ vừa trang nghiêm, rồi tuyển chọn các chàng trai khoẻ mạnh tham gia hội đua thuyền, dạy các cô gái trẻ đẹp múa hát.

Sau này, nhân dân địa phương lập đền thờ Lý Thường Kiệt ngay tại khu rừng trúc. Ngôi đền ngoảnh mặt ra sông đáy, phía sau thờ Mẫu Hậu và Công Chúa, rất linh thiêng. Di tích đền Trúc có 32 sắc phong của các triều đại phong kiến. Ngày 20-1-1994, Nhà nước đã công nhận đền Trúc và Ngũ động Sơn là di tích lịch sử văn hóa.

Lễ hội đền Trúc hay Ngũ động Thi Sơn được mở hằng năm, suốt từ mồng 10 tháng Giêng qua chính lễ là mùng 6 tháng Hai, kéo dài đến mùng 10 tháng hai mới dứt để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc. Nét nổi bật nhất của lễ hội này là trò hát dặm gồm 23 tiết mục với hàng nghìn câu thơ tương truyền do Lý Thường Kiệt sáng tác. Trò hát này được kết hợp động tác múa dặm chân chèo thuyền, vì thế mới gọi là “hát dặm”. Ngoài hát dặm, hội đền Trúc còn có hát bỏ bộ, hát đúm. Tối tối, trai gái đến tuổi trưởng thành đến đền lễ tạ rồi tản ra xung quanh hát đối đáp tỏ tình.

Trải qua thời gian và biến động của lịch sử nhưng phong cảnh quần thể Ngũ động Thi Sơn vẫn nguyên vẹn như xưa. Bao phủ quanh đền là màu xanh bạt ngàn của trúc. Trúc ken dày, thẳng tắp hướng lên trời xanh, dóng trúc nhỏ và óng gặp gió thì va vào nhau tạo ra âm thanh hoang sơ, huyền bí.

Mỗi du khách đến đây vừa cảm nhận vẻ u tịch linh thiêng vừa tựa hồ gặp lại bóng dáng vị danh nhân văn võ song toàn của đất Việt, tướng quân Lý Thường Kiệt.

Du lịch, GO! - Theo Hà Thân (Bản tin ĐHQGHN), internet