Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Phan Thiết - vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với những bãi biển xanh cuộn sóng, những cồn cát trắng trải rộng mênh mông, quyến rũ và đầy sức mê hoặc.

Tôi khởi hành chuyến đi của mình vào một buổi sớm tinh mơ khi những giọt sương còn đọng trên cành lá, ánh bình minh còn chưa ló dạng. Men theo đại lộ Đông Tây vi vu từng cơn gió thổi đã làm quên đi cái oi bức nắng nóng của Sài Gòn hoa lệ.

Xe rẽ tới đường hầm Thủ Thiêm vượt con sông Sài Gòn lớn ngút ngàn. Lòng hầm phát ra thứ âm thanh ồ ồ. Cứ như là giọng nói sang sảng oai vệ của ông lái đò trong thiên tùy bút "Người lái đò Sông Đà" của nhà văn Nguyễn Tuân, không hổ danh là một công trình quy mô lớn nhất Đông Nam Á.

< Tháp Chàm Po Sah Inư.

Bỏ lại căn hầm lớn sau lưng, xe bon bon trên con đường mới mở quận 2 ra tới xa lộ Hà Nội, đi thêm một quãng thì đến địa phận Đồng Nai. Dừng chân ở Trảng Bom tôi làm một tô phở nóng. No lòng rồi mới bắt đầu đi tiếp.

Tới Bình Thuận ngang qua những dãy đồi Bà Nài bạn đừng quên ghé thăm tháp chàm Po Sah Inư gắn liền với tên của vị công chúa tài hoa và xinh đẹp của vương quốc cổ chăm pa hay tạt qua Lầu Ông Hoàng một thời vang tiếng, ngôi biệt thự huy hoàng đã hoang phế theo thời gian nhưng vẫn còn đó một mối tình tuyệt đẹp.

< Lầu Ông Hoàng thấp thoáng xa xa.

Nơi in dấu chân của chàng thi nhân tài hoa Hàn Mặc Tử cùng nàng Mộng Cầm dạo bước nơi đây. Để lặng lòng lắng nghe từng câu thơ được chàng khắc họa với tất cả nỗi niềm thương nhớ:

"... Lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang.
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết..."

Hòn Rơm có hàng dừa cao mát rượi trĩu quả vươn mình in bóng trên mặt biển xanh. Ánh chiều dương tà tà rũ xuống phố thị đèn hoa rực rỡ.

Nếu bạn nghĩ đêm ở các khách sạn resort quanh biển hãy dành một chút thời gian để dạo bước ngắm nhìn cảnh biển về đêm. Thấp thoáng xa xa bạn sẽ thấy những đóm sáng đèn của những chiếc thuyền thúng bấp bênh bồng bềnh trên sóng nước nơi ngư dân chài lưới đang chăm chỉ làm việc.

Mặt trời đỏ từ từ nhô lên mặt biển, mang đến cho Phan Thiết một ngày mới bắt đầu. Tôi thức dậy thật sớm để lắng nghe hơi thở của một làng chài nhộn nhịp, để tìm hiểu xem cách họ buôn bán ra sao? Những chiếc thuyền thúng đầy ắp ghẹ, cá, tôm sau một đêm đánh bắt ngoài khơi đang lần lượt tấp vào bờ buôn bán hải sản náo nhiệt.

Lẫn trong tiếng kì kèo qua lại giữa kẻ bán người mua vẫn còn đâu đó một vài người đang chờ đợi những chiếc thuyền sau cập bến. Bạn có thể mua chúng theo dạng: thau đầy ắp cá tươi hay cân kí cá đem về tùy theo thỏa thuận.

Tôi đi cùng người bà con ở Phan Thiết ăn cơm tấm xứ biển nhưng đặc biệt ở chỗ nước mắm nơi đây họ lại làm ngọt gắt. Khi ăn vào cứ như ta đang uống nước ngọt vậy. Tôi có thắc mắc hỏi thì được cô chị họ giải thích rằng: "vì dân quanh vùng suốt ngày gắn với biển nên cái mặn nó thấm vào người lâu rồi, thành ra đồ ăn thì mới làm ngọt như vậy."

Sau bữa cơm sáng đặc biệt tôi theo chị đến Trường Dục Thanh nằm trên con đường Trưng Nhị, thành phố Phan Thiết - một nơi lưu dấu ấn của vị lãnh tụ tài ba đã từng dạy học và gắn bó với vùng biển miền Trung đầy nắng gió. Chị nói: "Nhắc đến Bình Thuận là nhắc đến cồn cát đẹp như tranh, nhắc đến Dục Thanh, Kê Gà, Tà Kú là nhắc tới những địa danh đã đi vào tâm khảm của người dân Bình Thuận".

< Đoạn đầu vào Suối Tiên.

Chị dẫn tôi đến Mũi Né thăm Suối Tiên Phan Thiết. Quang cảnh nơi đây vẫn còn hoang sơ, hùng vĩ và đầy thơ mộng mà thiên nhiên đã dành riêng cho nơi này.

Những bụi cỏ dại mọc ven dòng suối nhỏ dẫn lối ta như lời kêu gọi: "Hãy đến khám phá nơi đây!". Nóng lòng muốn biết theo sau là gì cũng đã thôi thúc làm cho tôi càng tò mò nhiều hơn. Đến Suối Tiên tốt nhất bạn nên tự khám phá một mình theo sở thích cá nhân của mỗi chúng ta.

Còn nếu bạn muốn tìm người hướng dẫn tận tình để biết nhiều hơn về nơi bạn đang tới thì ngay phía trước con đường vào suối đã có một đám em nhỏ người địa phương đang đứng chào mời với giá 10 đô cho khách nước ngoài hoặc tầm tối đa 50 ngàn với du khách nội địa như chúng ta.

Hôm tôi đến Suối Tiên có rất nhiều khách du lịch là người nước ngoài đến xem rất đông. Vì thế mà cũng không có gì ngạc nhiên khi mỗi du khách đều có một em người việt đi kèm.

Ai tới đây đều cũng phải cởi dép để men theo dòng suối nhỏ mát lạnh khoan khoái được chảy ra từ những mạch nước ngầm trong lòng núi. Suối Tiên càng đi sâu vào bạn sẽ càng cảm nhận được cái đẹp mà du khách thường ví von là "Suối Bồng Lai Tiên Cảnh".

Các dãy núi trùng trùng điệp điệp san sát nhau hòa quyện với những gam màu trắng, vàng, nâu, đỏ. Tất cả lai tạo nên một hình ảnh khiến cho ta cứ liên tưởng không ngừng đến những sắc tộc màu da trên thế giới cũng giống với màu cát nơi này.

< Chợ hải sản trên bãi biển.

Chúng không có sự phân biệt nhau mà chỉ gắn chặt một tình anh em thắm thiết đậm đà. Ánh xanh phản chiếu của hàng cây hoang dã đối diện xào xạc theo từng đợt gió thổi mướt lay động khiến trái tim của mỗi một du khách cũng phải bồi hồi xao xuyến. Chiều hoàng hôn ngả bóng lại càng tạo nên cho Suối Tiên thêm huyền bí chất chứa bao điều lạ lẫm và thú vị.

Phan Thiết đã làm say mê biết bao nhiêu du khách thập phương. Chỉ cần một lần ghé nơi đây, phong cảnh hữu tình của những bãi cát mịn hòa theo sóng biển cùng hàng phi lao nghiêng bóng trải dài và sự thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương cũng đủ để khiến bạn luôn mong muốn sẽ quay lại Phan Thiết thật nhiều lần hơn nữa.

Du lịch, GO! - Theo Yume

ĐGD: Có lẽ tít "Mũi Né đẹp như mơ..." sẽ chuẩn xác hơn vì trong bài đề cập nhiều đến nơi này. Mình bổ xung thêm bản đồ ẩm thực Phan Thiết vào để các bạn có thể tham khảo thêm.

< Bản đồ ẩm thực tại Phan Thiết. bạn nhấn open new tab để xem kích cỡ lớn hơn.
Người dân một số địa phương ở thị xã Cửa Lò, Nghệ An hình thành được nghề nướng cá thu. Đây được coi là nét độc đáo, góp phần làm hấp dẫn thêm cho du lịch biển Cửa Lò.

Từ nhiều năm nay, các gia đình ngư dân ở khối Hải Giang 2, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò mở ra nghề nướng cá thu. Lúc đầu chỉ một vài hộ tham gia, nhưng đến nay trên địa bàn phường đã có trên 50 hộ làm nghề. Nhiều gia đình ở phường Nghi Hải cho biết, lúc đầu chỉ nghỉ đơn giản, nhà ở gần cảng cá Cửa Hội và gần chợ Mai Trang là chợ cá lớn của tỉnh Nghệ An, có điều kiện mua bán, tiếp xúc nhiều với các loại cá, trong đó có cá thu nên các gia đình thường mua cá về nướng với mục đích để giữ cá được tươi ngon, không ươn, dùng để sử dụng lâu dài cho gia đình.

Về sau, nhiều người dân ở các địa phương khác, trong đó có cả khách du lịch khi đến Cửa Lò đã tìm đến để hỏi về cách nướng cá cũng như muốn  tận mắt chứng kiến cách nướng cá của người dân ven biển nên cũng từ đó nghề nướng cá trên địa bàn phường phát triển.

Giờ đây, nghề nướng cá không chỉ có ở phường Nghi Hải mà còn xuất hiện ở nhiều phường khác ở thị xã Cửa Lò. Lúc này, nướng cá thu đã trở thành một nghề không chỉ mang lại thu nhập cho các hộ nướng cá mà đang trở thành một nét đẹp độc đáo, hấp dẫn du khách khi đến với biển Cửa Lò. Đối với du khách khi đến Cửa Lò, thực đơn trong các bữa ăn, món không thể thiếu đó là cá thu nướng, đặc biệt hấp dẫn là món đầu, đuôi cá thu nướng. Nhiều du khách coi đây là món ăn ẩm thực độc đáo ở vùng biển xứ Nghệ, ăn một lần để rồi nhớ mãi.

Cá thu nướng là món ăn ngon, bổ, so với các món ăn biển khác thì đây cũng là món ăn có giá cả vừa phải, không quá cao nên bất cứ du khách nào cũng có điều kiện để thưởng thức nếu muốn. Không chỉ thưởng thức cá thu nướng, nhiều du khách khi đến với biển Cửa Lò còn tự tìm đến các “làng nghề” nướng cá, tự tay chọn cá thu tươi nguyên và đặt cho các hộ dân nướng, còn mình chứng kiến từ đầu đến cuối cả quy trình nướng.

Tham quan các làng chài ven biển, tận mắt chứng kiến cuộc sống của người dân ven biển, trong đó có nghề nướng cá thu cũng là một nét đẹp, độc đáo, hấp dẫn du khách; nhiều du khách khi đến Cửa Lò không bỏ lỡ cơ hội để được đến xem nghề nướng cá. Bà Nguyễn Hải Vân- người nướng cá thu ở phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò cho biết : “Cái quan trọng của nghề nướng cá thu là phải giữ được chữ tín, trong đó quan trọng nhất là chất lượng cá trước lúc đưa vào nướng phải tươi, ngon, không ươn, cá nướng lên nhìn phải bắt mắt, ăn phải thơm ngon”.

Để chọn được cá tươi, ngon, ngay từ sáng sớm hàng ngày, các hộ nướng cá đã phải đến các bến cá, chờ tàu khai thác thủy sản về để chọn mua cá tại gốc. Người dân vùng biển nhìn cá là biết con nào tươi ngon, con nào không để chọn mua, không vì ham rẻ mà chọn những con cá có chất lượng kém hoặc cá trôi nổi trên thị trường. Đối với người dân ven biển Cửa Lò, nghề nướng cá cũng có những “bí quyết” riêng để cá nướng lên không quá cháy, thịt cá chín đều, vẫn giữ được mùi vị thơm ngon.

Hiện nay, các hộ nướng cá thu đã trở nên “chuyên nghiệp” hơn trong cách nướng và cách phục vụ du khách. Các nhà hàng, khách sạn ở Cửa Lò khi cần, chỉ cần điện thoại đặt trước là các hộ nướng cá thu cho người đem đến tận nơi để phục vụ du khách. Khi đặt mua cá thu nướng ở Của Lò, du khách hoàn toàn yên tâm không lo mua dùng phải loại cá kém chất lượng hoặc không đạt số kg đặt mua.

Không chỉ là món ăn trong thực đơn đi biển, du khách còn có thể đặt mua cá thu nướng đem về. Tùy theo số lượng và nhu cầu đặt mua con to, con nhỏ của du khách, sau khi nướng xong cá, người nướng cá gói ghém, bỏ vào thùng xốp cẩn thận cho du khách, bảo đảm khi vận chuyển cách xa hàng trăm km, đi đường xa trong một vài ngày, cá vẫn tươi nguyên, không bốc mùi, khi ăn vẫn thấy cá thơm ngon, giữ được mùi vị như khi ăn tại nơi mua.

Tiếng lành đồn xa, món cá thu nướng hấp dẫn không chỉ du khách trong nước khi đến với biển Cửa Lò mà còn đối với khách du lịch đến từ Lào. Do vị trí địa lý cách không xa Lào, lại là vùng biển hấp dân nên từ nhiều năm nay Cửa Lò là một trong những địa phương ven biển được nhiều du khách Lào chọn làm nơi nghỉ mát. Anh Bun Lửa Xin, phóng viên của Thông tấn xã Lào (KPL) là người có nhiều lần đến Cửa Lò cho biết: “Nhiều du khách của Lào khi từ biển Cửa Lò về nước thường mua cá thu nướng để cho gia đình dùng trong bữa ăn hàng ngày hoặc làm quà gửi tặng bạn bè, người thân”. Anh cũng đã nhiều lần "săn" được nhiều tấm ảnh đẹp về nghề nướng cá thu ở Cửa Lò.

Cửa Lò đã và đang trở thành khu du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Trong xu thế đô thị hóa thì những nét đẹp dân dã, bình dân của người dân ven biển, trong đó có nghề nướng cá thu vẫn giữ được những nét độc đáo, mang đậm bản sắc riêng của người dân vùng biển. Những nét độc đáo này đang góp phần quan trọng làm cho diện mạo du lịch biển Cửa Lò thêm nhiều “màu sắc” để rồi hấp dẫn, thu hút du khách.

Lãnh đạo UBND Thị xã Cửa Lò cũng cho biết, luôn khuyến khích, tạo điều kiện để người dân phát triển, giữ vững được các ‘thương hiệu” cũng như các nghề truyền thống liên quan đến biển. “Thương hiệu” cá thu nướng Cửa Lò sẽ mãi vươn xa, luôn cố gắng giữ được chữ tín để hấp dẫn du khách bốn phương khi đến với vùng biển hấp dẫn, độc đáo bậc nhất xứ Nghệ này.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Văn Nhật (bao Haiquan), internet

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Sào huyệt của cướp biển từ nhiều trăm năm trước, giờ trở thành xã mồ côi giữa biển. Đảo Bé (thuộc huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) trông xa như mom núi trồi lên mặt biển, giờ còn một di tích, được đặt tên là hang Kẻ Cướp…

Sào huyệt của cướp biển

Nhiều trăm năm trước, nhiều toán cướp biển chọn đảo Bé (xã An Bình, Lý Sơn, Quảng Ngãi) làm căn cứ để tấn công sang đảo lớn Lý Sơn vào cửa Sa Cần, cửa Sa Kỳ, cửa Cổ Lũy, vũng Quất. Đảo Bé là sào huyệt để bọn cướp chôn giấu tài sản và trú ngụ qua ngày. Nhiều người đồn đoán, đảo này vẫn giấu vàng của bọn cướp thời đó. Ai đã đọc tác phẩm “Đảo giấu vàng” của Robert Louis, nhà văn người Scotland, thì có thể hình dung ra hình ảnh bọn cướp biển một thời.

Ông Phạm Thoại Tuyền, một người dân trên đảo lớn Lý Sơn, khá rành câu chuyện hải tặc, vẫn được gọi là giặc Tàu ô. Thời đó, giặc Tàu ô cứ lén lút đổ bộ lên đảo lớn, chúng cướp phá ầm ầm, bắt giữ gái đẹp rồi kéo nhau bỏ đi. Vậy nên đảo Lý Sơn có nhiều ngôi nhà cổ được thiết kế có hai vách để đàn bà con gái trốn giặc Tàu ô. Trên đảo có những dũng sĩ lao ra bãi biển chiến đấu chặn giặc Tàu ô cướp phá.

Dòng họ ông Tuyền có bà Phạm Tiên Điều, con út của cụ Thủy tổ họ Phạm. Giặc Tàu ô vào làng, bà chạy đi báo cha mẹ. Khi sắp bị bắt, bà lao mình xuống biển tuẫn tiết để giữ tấm thân trong sạch. Người dân trên đảo giờ xây đền thờ để cúng viếng bà. Bà cũng là nữ nhân thần duy nhất trên đảo Lý Sơn.


< Đảo Bé nhìn từ đảo Lý Sơn.

Trong sách Đại Nam thực lục Quốc sử quán triều Nguyễn còn ghi lại: “Năm 1867, thuyền giặc biển 22 chiếc vào cửa Sa Kỳ lên trên cạn hơn 300 tên, quan tỉnh Quảng Ngãi vì có ít quân, xin điệu quân ở quân thứ Tĩnh Man hội lại cùng đánh…”. Cướp biển thời đó đều xuất binh từ đảo Bé. Những tiếng tù và ầm ĩ báo động giặc Tàu ô vào đảo. Hình ảnh đó giờ đã lùi vào dĩ vãng. Sào huyệt của hải tặc, giờ trở thành xã đảo An Bình.

Qua thăm đảo Bé, câu chuyện một thời được người dân giới thiệu bằng di tích, đó là hang Kẻ Cướp. Hang rất hiểm trở, thông thường phải lặn xuống biển mới tìm được lối vào hang.

< Cảnh đẹp trên đảo Bé.

Kẻ cướp ở đảo Bé giờ không còn, nhưng qua đảo Bé phải đối mặt với “sóng cướp”. Chỉ cách đảo lớn Lý Sơn chừng 4 cây số biển, khoảng nửa giờ đi thuyền, nhưng việc đi lại vô cùng vất vả, hiểm nguy.

Đảo Bé với chừng 100 hộ dân do vậy thường bị cô lập hoàn toàn khi sóng to gió lớn. Ông Phan Đình Phương, Chủ tịch xã An Bình, kể: “Cán bộ qua đảo Bé công tác, gặp mùa mưa thì phải gói tất cả hành lý, điện thoại trong túi ny lon. Thuyền vô bờ không được, phải tăng bo bằng thúng”.
Khu vực đảo Bé thường xuất hiện sóng to như ngôi nhà. Thúng chở khách hay úp ngược và trút mọi người văng xuống biển. Nếu bơi kém thì mất mạng như chơi.

Kho báu đảo Bé

Khách đặt chân lên đảo Bé, mọi ánh mắt đổ dồn về khách lạ. Bởi không mấy khi, khách đất liền thăm cái xã cô đơn. Đảo “giấu vàng”, mấy mươi năm cày cuốc, trồng hành, trồng bắp người dân đào bới chả tìm thấy.

< Trẻ em trên đảo.

Họ toàn thấy được nỗi nhọc nhằn với nhiều thiếu thốn, khi phải sống ở hòn đảo giữa biển khơi.

Nhưng người dân nơi đây vẫn tự hào: “Khổ thì khổ thiệt, nhưng con gái ở đây dù quanh năm dầm mình nước biển, ăn toàn rau biển, nhan sắc vẫn đẹp mặn mà hơn mà nói chuyện có duyên”.


< Phụ nữ bắt đầu vụ trồng hành tỏi.

Câu chuyện nhan sắc có thể đúng là thế thật. Những cô gái nước da ngăm đen, nụ cười tươi mới, hàm răng trắng đều. Vóc dáng họ đều thể hiện một sự trẻ trung, căng đầy sức sống của một cơ thể được nuôi dưỡng bởi thiên nhiên.

Vậy nên đảo Bé mới có câu chuyện “rể lính cả nhà”. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, cán bộ dân số ở đảo Bé công nhận, chuyện lạ đó có thật. Những chàng lính trẻ cứ đến thăm gia đình bà Nguyễn Thị Đây là lập tức bén duyên.

Bà Đây đã lớn tuổi nhưng nước da vẫn hồng hào. Bốn chàng lính, người đến từ đất liền, người ở đảo lớn đều xin được làm rể gia đình bà Đây.

Cứ hơn 8 giờ sáng là có một chiếc thuyền nhỏ chở khách từ đảo lớn cập sang đảo Bé. Khách đang yên, đang vui, tự nhiên ông chủ đò bắc tay đi loa loa khắp xóm: “Tới giờ rồi, bữa nay về sớm thôi”.

Nếu là khách quen thì chẳng thắc mắc chuyện qua trễ về sớm. Bởi cái lịch qua đảo, rời đảo đều phụ thuộc vào ý muốn của ông trời. Cứ thấy trời lăn tăn một chút sóng, ông chủ đò hấp tấp hối khách.

Một ông già ví đảo Bé quê mình như một đầu con ngựa chiến: “Nó kỳ lắm, trời đang yên đang lặng, thời tiết chuyển lừng lừng thì không có tàu nào cập vô được đâu. Nếu khách kẹt lại, gắng chờ vài ngày biển êm thì mới có đò qua rước mình về”.
Vàng ở đảo, có lẽ khó tìm được. Nhưng vàng ở đảo Bé, đó là sự hoang sơ, trong trẻo, tinh khôi khó kiếm được ở chốn đô thành.

Du lịch, GO! - Theo Thanh Trung (Quảng Ngãi Online), internet
Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 20km, ít ai biết rằng mặt nước bãi biển hoang sơ Ghềnh Bàng lại ẩn chứa nhiều san hô và cá biển đủ màu sặc sỡ, là một địa điểm rất thú vị cho những ai khoái du lịch "bụi" và những người trẻ tuổi có chút "máu" mạo hiểm.

Được lặn biển luôn là ước mơ của những người mê khám phá. Cái cảm giác được tận mắt chiêm ngưỡng thế giới thuỷ cung rực rỡ toàn san hô và các loài thuỷ ngư thật khó có gì có thể so sánh được. Thế nhưng cái giá 70USD cho một lần lặn biển mà khu Resort Furama (Đà Nẵng) chào mời (mặc dù rất xứng đáng với sự chuyên nghiệp mà họ mang lại) cũng không phải là mức ai cũng có thể "nghiến răng" chịu được (giá này ở Nha Trang là từ 50-150USD). Ấy vậy nên một nơi thiên nhiên hoang sơ như Ghềnh Bàng lại trở thành điểm đến thú vị và ít tốn kém.

Nói Ghềnh Bàng là nơi thiên nhiên hoang dã thì chưa hoàn toàn đúng, bởi dù phải đi hết đường nhựa, xuống ôtô cuốc bộ thêm hơn 1km nữa, nơi đây vẫn có đôi ba cái lán dân địa phương dựng nên. Cứ tạm coi đây là khu du lịch sinh thái với những dịch vụ tối thiểu nhất: Vài chai nước, dăm ba chiếc bạt dứa, cần câu cho thuê với giá 5.000 đồng/chiếc cộng mồi bột, chục chiếc kính lặn tự chế... Nhưng chính sự hiện diện thiếu vắng của các dịch vụ lại tạo nên nét hấp dẫn riêng của Ghềnh Bàng.

Dọc bãi biển dài hơn 2 km là hàng nghìn tảng đá lớn nhỏ với đủ hình dáng, ôm bọc lấy bãi đá là cây cối um tùm xanh mướt. Theo lời cư dân bản địa thì "Cứ bơi ra đó mà lặn thôi, nhiều san hô đẹp lắm".

Thế nhưng để ra được khỏi bãi đá không phải là chuyện đơn giản. Hì hụi trèo qua những tảng đá lớn nổi rõ trên mặt nước, vừa đặt chân xuống nước "đội quân" du lịch "bụi" đã gặp ngay những tảng đá chìm bám đầy hà sắc như dao cạo, tuồng như thiên nhiên muốn bảo vệ những cảnh quan xinh đẹp của mình trước ánh mắt tò mò của con người. Y hệt như dò mìn vậy, người đi trước mò mẫm từng bước một để tránh đá, người đi sau quan sát để tránh những chỗ "kẻ dẫn đường" lỡ sa chân. Để ý một chút sẽ thấy cát trắng phau, êm mượt bọc quanh những tảng đá "bẫy" này.

Vượt qua hơn 20 m "gian khổ", cuối cùng những bàn chân đau nhức vì hà đâm cũng đặt được lên khu vực cát mịn, lúc này nếu đứng thẳng, nước biển đã ngập ngang ngực người lớn. Lao mình xuống làn nước màu ngọc bích chẳng khó khăn gì để phát hiện ra những dãy san hô lớn nhỏ ẩn hiện dưới làn nước nông trong vắt.

San hô nơi đây không nhiều màu sắc như san hô ở Nha Trang, nhưng cũng đủ hấp dẫn với một tour du lịch khám phá. Khi lặn xuống nước, du khách có thể dễ dàng chiêm ngưỡng những đàn cá thia, cá nàng đào đủ sắc màu và những con ốc biển lạ mắt bám dưới gốc san hô nữa...

Ngụp lặn chán, những kẻ mệt nhoài vì sóng đánh, vì sặc nước nhưng lòng đầy hả hê kéo nhau lên bờ, lại một chặng đường vượt qua "bẫy đá" gian nan...

Du lịch, GO! - Theo Baicatvang tổng hợp, ảnh internet

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

Hòn Sơn Đừng là một thôn của xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây có một làng chài rất nhỏ, với những tảng đá thiên tạo mang dạng hình các loại thú, nơi không có xe cộ, kể cả xe đạp. Đúng là một bảo tàng của hoang sơ...

Nhưng có nhiều lý do để du khách đến Sơn Đừng từ khung cảnh thiên nhiên đẹp lạ thường, biển và núi... những tảng đá thiên nhiên mang dáng hình các con thú, những vách núi được cây cỏ bám vào. Với những ưu đãi của thiên nhiên ban tặng, Sơn Đừng đang bắt đầu làm du lịch theo cách của mình.
Tựa lưng vào những đồi cát vàng chập chùng, hòn Sơn Đừng nhìn ra biển. Mỗi khi thủy triều rút lộ ra bãi cát trắng mịn, sạch. Bên phải hòn là một bãi đá đẹp, là nơi tắm biển khá an toàn. Do sống xa và tách biệt với đất liền, người ta đặt Sơn Đừng là “làng Robinson”.

Vài năm trước, muốn đến Sơn Đừng, từ đất liền phải đi nhờ tàu đánh cá, cả đi và về phải mất hai ngày. Ngày nay, nếu không đi đường bộ đến tận nơi thì có thể đi tàu cắt ngang vịnh Vân Phong với chỉ 3 tiếng đồng hồ. Thời gian trên tàu, du khách thỏa sức ngắm vịnh đẹp, với cảnh thanh bình của những làng chài nép mình dưới rừng dừa xanh ở chân núi, những cồn cát trắng mênh mông và những dãy núi chập chùng xa xa...

Dưới ánh nắng, nhìn từ xa Sơn Đừng đẹp tựa tranh vẽ. Cách bờ chừng 100m, tàu không cặp bến được vì bờ biển lài ra khá xa. Phải dùng thuyền thúng vào bờ. Nhưng đa số khách du lịch lại thích nhảy xuống lội vào. Nước biển trong vắt, sạch và ấm.

Ở Sơn Đừng không có đường sá và tất nhiên không có cả xe máy, xe đạp. Con đường chính của Sơn Đừng đi men theo mép biển nên khi nước lên thì đường mất. Giữa các nhà dân qua lại với nhau, người ta rải san hô thành những lối đi nhỏ trên cát.

Xóm biển nho nhỏ này cũng có một câu chuyện cổ tích: Ngày xưa, có một nhóm người thuộc dân tộc Đàng Hạ đi biển gặp bão, bị đắm tàu và đã trôi dạt vào bờ biển này sinh sống. Thời đó, họ chẳng có quần áo để mặc nên dùng lá cây làm trang phục.

Sau đó, một số con trai, con gái lớn lên đã quyết định rời bỏ bãi biển buồn tênh này vào đất liền lập nghiệp. Nhưng cũng có những người vì tình yêu mà chọn chốn này an cư lạc nghiệp... Người dân Sơn Đừng làm rất nhiều nghề để sinh nhai như: nuôi tôm hùm lồng, đánh bắt mực, cá, lên rừng đốn củi và nghề trồng điều, trồng cây ăn trái. Giờ đây, họ thêm công việc làm du lịch.

Hàng ngày, đám trẻ con tung tăng ra tận bãi rước khách du lịch, phụ nữ chuyên lo ẩm thực với những món ăn dân dã, độc đáo. Đàn ông ở thôn ai cũng giỏi nghề nuôi tôm hùm và lặn biển. Những căn nhà của các cư dân ở đây được trang trí theo kiểu quán ăn bình dân nhưng khá tiện nghi và có kèm thêm dịch vụ “tua điền dã”. Khách đến Sơn Đừng, bất kể Tây hay ta, đều thích dùng thử món “ốc mặt trăng” ướp sả, nướng hoặc hấp và cháo cá thu.

Hầu như ai tới Sơn Đừng cũng tò mò tìm hiểu về nguồn nước ngọt dồi dào ở ngay trên bãi cát sát mép nước biển. Ý thức được nguồn tài nguyên du lịch thiên phú của mình, cho nên người dân Sơn Đừng bảo vệ triệt để bãi biển trước mặt làng.

Tương truyền, khi vua Gia Long thua quân Tây Sơn tới đây, đã đào thử một hồ nước ngay bãi cát trên mép nước biển. Điều kỳ diệu đã xảy ra: họ tìm được nước ngọt và đến nay, giúp người dân Sơn Đừng có nước uống và có sản phẩm giới thiệu với khách du lịch. Từ giai thoại đó, người dân Sơn Đừng có hẳn một đền thờ nhỏ được lập để thờ vua Gia Long.

Người dân ở đây khai thác nước ngọt có lẽ là “độc nhất vô nhị”: họ chỉ cần ra bãi biển, cách mép nước chừng nửa mét, lấy tay đào một lỗ nhỏ là sẽ có ngay nước ngọt. Công việc “biểu diễn” đào “giếng” được những đứa trẻ nơi đây làm rất thuần thục cho du khách xem.

Theo các nhà địa chất, do vùng đất này có nhiều mạch nước ngầm chảy từ núi xuống nên nước ngọt mới tinh khiết, không có vị mặn như vậy. Người dân vo gạo, rửa cá, chén bát tại những lỗ nhỏ đào trên bãi biển; nếu cần nhiều nước để tắm, giặt họ đào hố lớn hơn. Đến đây, du khách nào cũng muốn lấy một chai nước mang về.

Hấp dẫn hơn nữa, du khách ra sau làng, leo lên đồi cát để tìm cảm giác chinh phục đồi cát hoặc theo người dân địa phương, ra bè đang trên biển, lựa mua tôm cá rồi trở vào bờ biển luộc hay nướng bên bếp than, củi và thưởng thức theo cách dã chiến để tận hưởng cảm giác sung sướng giữa thiên nhiên miền biển.

Hoang sơ Sơn Đừng

Du lich,GO! - Theo Báo Cần Thơ, internet

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Từ thế kỷ XVII, Người Việt đã liên tục khẳng định, bảo vệ, thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa cho dù gặp bất cứ trở ngại, khó khăn nào.

Dấu ấn Việt Nam đầu tiên, thường xuyên, liên tục trên Hoàng Sa và Trường Sa

Sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” viết: “Sử sách Việt Nam và cả ở Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải ngoại Kỷ sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội Hoàng Sa và Phủ biên tạp lục viết năm 1776, chép ‘Tiền Nguyễn Thị’. Đại Nam thực lục tiền biên (1821) chép ‘Quốc sơ trí Hoàng Sa’. Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (năm 1686), đã đề cập đến các hoạt động của đội Hoàng Sa.
Phủ biên tạp lục cũng như các tài liệu khác đều cho biết đội Hoàng Sa khi trở về đất liền vào thàng tám Âm lịch vào Cửa Eo hay Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xuân.

Thời chúa Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến Kim Long vào năm Dương Hòa đầu năm (1635) và thời chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân.”

“Chúng ta có cơ sở để khẳng định đội Hoàng Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay chắc chắn hơn từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Bởi chính thời kỳ này, các thuyền của Đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo (Thuận An) và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân.”

< Văn bản phát hiện ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế với nội dung xử lý vụ kiện giữa phường Mỹ Toàn (nay là làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ) và phường An Bằng (xã Vinh An) về việc tranh chấp một chiếc vỏ thuyền của đội Hoàng Sa dạt vào bờ biển giáp ranh giữa hai phường này. Văn bản cho thấy, năm 1760, dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) đã có cai đội Hoàng Sa chuyên trách quản lý và khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa. Bản gốc bằng chữ Hán được viết trên giấy dó.

Sang thời Tây Sơn, sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông ghi rõ: “Trong thời gian từ năm 1771 đến 1801, gần như lúc nào cũng có chiến tranh, trên đất liền cũng như ngoài Biển Đông, từng khu vực có lực lượng hoặc do Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh hoặc quân Tây Sơn làm chủ.”

“Chỉ trong vài năm bị đình đốn, ngày 15 tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) cai hợp Hà Liễu ở phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) thuộc xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi đã làm đơn xin với chính quyền Tây Sơn được lập lại hai đội Hoàng Sa và Quế Hương, sẵn sàng vượt biển ra các cù lao (đảo) ngoài biển để làm nhiệm vụ theo thông lệ và sẵn sàng ứng chiến chống kẻ xâm phạm”. Thêm một cứ liệu khác: “Năm Thái Đức thứ 9 (1786)- Niên hiệu Nguyễn Nhạc- ngày 14 tháng 2 (Âm lịch) chính quyền Tây Sơn ra quyết định sai phái Hội Đức Hầu, cai đội Hoàng Sa, cưỡi 4 chiếc thuyền vượt biển ra thẳng Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển.

Theo các tư liệu còn lưu lại cho thấy, người phụ trách dân binh với chức Thái phó, một chức quan lớn trong chiều. Chính quyền Tây Sơn còn yêu cầu các thuyền của đội Hoàng Sa phải mang biển hiệu thủy quân, song lại nhắc nhở không được lấy danh nghĩa thủy quân mà làm càn, bắt nạt dân làm muối và đánh cá.”

Mặc dù tình hình đất nước thời đó xảy ra nhiều cuộc chiến tranh nhưng Chúa Nguyễn, Nhà Tây Sơn cũng không quên tiếp tục việc gìn giữ chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. "Dấu ấn" này đã mang tính công vụ Nhà nước thời bấy giờ chứ không phải hoạt động đánh cá hay thuyền buôn thông thường của người dân.

Nhà Nguyễn tiếp tục khắc đậm "dấu ấn Việt Nam" trên Biển Đông

Ngay sau khi thay thế Nhà Tây Sơn, vua Nhà Nguyễn không chỉ tập trung vào việc trị an đất nước mà còn lập lại đội Hoàng Sa. Sách Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông chỉ rõ: “Chỉ một năm sau khi lên ngôi hoàng đế, tháng 7 năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long đã cho lập lại đội Hoàng Sa. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 12 viết: “Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự của biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.

< Mộc bản triều Nguyễn trong sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 165 năm Minh Mạng thứ 17 (1836) ghi lại Bộ công tâu lên triều đình nội dung: "Cương giới mặt biển ta có xứ Hoàng Sa rất hiểm yếu".

Tiếp nối các đời vua Nhà Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… việc duy trì Hải đội Hoàng Sa rất đều đặn. Hải đội Hoàng Sa dưới thời Nguyễn có tầm quan trọng như một lực lượng "đặc nhiệm" để bảo vệ chủ quyền. Sách viết: “Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một ‘lực lượng đặc nhiệm’ gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương trong đó có dân binh đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy quân đóng ở kinh thành hay cửa Thuận An.”

Ngăn chặn âm mưu thôn tính Hoàng Sa từ trứng nước

Theo Hiệp ước Patenôtre được ký giữa Việt Nam và Pháp, Pháp sẽ là đại diện ngoại giao cho Việt Nam. Từ thời kỳ này, chính quyền thuộc địa Pháp đã có những hành động cụ thể để củng cố, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông chỉ ra âm mưu “nhòm ngó” Hoàng Sa từ những năm 1909 của một chính quyền địa phương Quảng Đông. Thông qua bức thư của Lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp ngày 04.05.1909 cuốn sách đã chỉ ra những nội dung sau:
“- Do ảnh hưởng của việc Nhật chiếm Pratas, Trung Quốc muốn bắt đầu chiếm luôn quần đảo Paracel gần Hải Nam (Quần đảo Hoàng Sa).

- Cuộc khảo sát trái phép đầu tiên (của Trung Quốc- PV) là của Ngô Kính Vinh đã cho thấy ở mỗi đảo Hoàng Sa đều có một ngôi miếu nhỏ xây kiểu nhà đá (tất cả tường mái là đá san hô và vỏ sò).
- Các ngư dân Việt Nam mang cả vợ con đến sống ở Hoàng Sa bị đối xử tàn tệ, vợ con bị bắt đến đảo Hải Nam.”

< Bia chủ quyền do Pháp thay mặt Việt Nam xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa.

Cuốn sách đã chỉ ra nhiều sự kiện thực thi chủ quyền thay Việt Nam của chính phủ Pháp. Nhưng đáng chú ý nhất là: “Ngày 13.04.1930, Thông báo hạm Malicieuse do thuyền trường De Lattre điều khiển đi ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương để dựng bia chủ quyền chiếm giữ đảo Trường Sa và các đảo phụ thuộc. Hoạt động này đã được toàn quyền Đông Dương báo cáo lên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp tại Paris (Điện số 689 ngày 18.04.1930).

Ngày 23.09 .1930, Pháp gửi thông báo ngoại giao cho các cường quốc về việc Pháp đã chiếm đóng quần đảo Trường Sa.”
Ngoài những hoạt động về ngoại giao và thông báo chính quyền Pháp còn thay mặt Việt Nam thực thi việc chiếm hữu liên tục, thực sự. Sách viết: “Năm 1938, Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và xây dựng hải đăng, một trạm khi tượng (OMM đăng ký số 48860 ở đảo Hoàng Sa và số 48859 ở đảo Phú Lâm).

Ngày 15.06 .1938, Pháp xây xong trạm khí tượng ở trạm Ba Bình quần đảo Trường Sa.”
“Tháng 6 năm 1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Hoàng Sa với dòng chữ: “Respublique Francaise_ Royaume d’Annam- Archipel de Pacel 1816- Ile de Pattle 1938”.

Việc thực thi chủ quyền của Việt Nam dưới thời kỳ Pháp làm đại diện diễn ra liên tục và thực sự. Người Pháp đã thay Việt Nam xây dựng nhiều công trình ghi dấu ấn chủ quyền như bia chủ quyền, trạm khí tượng và hải đăng…. và công bố chủ quyền cho các cường quốc….

Liên tục thực thi chủ quyền trên Biển Đông trong bất kỳ hoàn cảnh nào

< Hải đăng Việt Nam trên đảo Hoàng Sa thời Pháp thuộc.

Lợi dụng Việt Nam đang đối phó với sự trở lại của Pháp và lo kháng chiến chống Pháp, quân Tưởng Giới Thạch đã kéo quân xuống chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách viết: "Ngày 26.10.1946, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa dân quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập của hải quân lấy cớ giải giáp quân Nhật ra chiếm các đảo quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Ngày 29.11.1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới quần đảo Hoàng Sa. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa.”

Trước tình hình đó, “ngày 13 .01 .1947, Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Quốc với quần đảo Hoàng Sa” Sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông cũng lý giải: “Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nằm trong khối liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.”

Sách viết: “Ngày 1.10.1949, nước CHND Trung Hoa ra đời, đơn vị đồn trú của Trung Hoa Dân quốc phải rút khỏi Phú Lâm, trong khi Pháp vẫn duy trì đồn trú tại đảo Hoàng Sa.
Sau Hiệp định Genève ký kết ngày 20.7.1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam.
Ngày 14.10.1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ Hoàng Sa. Tổng trấn Trung phần, Phan Văn Giáo, đã chủ trì việc ban giao này.”

Dù trong giai đoạn nào, Việt Nam luôn thực thi chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Việc bảo vệ, quản lý, xây dựng, gìn giữ chủ quyền của Nước CHXHCN Việt Nam được sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông ghi chép khá đầy đủ. Trong phạm vi bài viết này, người viết không thể đưa hết nội dung của những mốc thời gian, những việc khẳng định, thực thi chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông mà chỉ trích lược một vài dấu mốc chính trong cuốn sách. Nội dung được trình bày trong trọn vẹn trong Chương 3 (từ trang 77 đến hết trang 134).

< Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn còn vẽ các đảo trong quần đảo Hoàng Sa.

Tóm lại: Sử sách Việt Nam và cả ở Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải ngoại Kỷ sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội Hoàng Sa và Phủ biên tạp lục viết năm 1776, chép ‘Tiền Nguyễn Thị’. Đại Nam thực lục tiền biên (1821) chép ‘Quốc sơ trí Hoàng Sa’. Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (năm 1686), đã đề cập đến các hoạt động của đội Hoàng Sa. Phủ biên tạp lục cũng như các tài liệu khác đều cho biết đội Hoàng Sa khi trở về đất liền vào thàng tám âm lịch vào Cửa Eo hay Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xuân. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh đến Kim Long vào năm Dương Hòa đầu năm (1635) và thời chúa Nguyễn Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân.

Hải đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải được ghi đậm dấu ấn trong nhiều sử sách thời Nguyễn

Từ năm 1816, Gia Long bắt đầu cử thuỷ quân cùng với đội Hoàng Sa, không còn giao phó hoàn toàn cho đội Hoàng Sa, lo kiểm soát, đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa trở thành tổ chức mang tính dân sự nhiều hơn. Theo truyền thống, dân Cù Lao Ré vẫn tiếp tục đi biển trong đó có vùng Hoàng Sa có nhiều sản vật quý.

Vào thời Minh Mạng, như năm 1835, vẫn thấy đội Hoàng Sa hỗ trợ thủy quân đi công tác tại Hoàng Sa với đà công (lái thuyền) và dân phu. Thời Tự Đức, người ta không thấy các biên niên sử còn chép lại các hoạt động của đội Hoàng Sa, vì theo Đại Nam thực lục, đệ tứ kỷ, chép vào đời Tự Đức, những việc thành lệ thông thường không được chép nữa mà thôi. Những hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như thủy quân từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đã trở thành lệ thường, như đã chép trong sách Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ.
Ngoài ra có văn tế sống lính đội Hoàng Sa thời vua Tự Đức còn lưu lại Ở Đảo Cù Lao Ré.

< Văn tế dân binh Hải đội Hoàng Sa được tìm thấy ở Đảo Lý Sơn.

Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những tài liệu như Dư địa chí, Hoàng Việt địa chí dư, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng ba âm lịch đến tháng tám âm lịch thì về. Riêng theo Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toản tập An Nam lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; theo Phủ biên tạp lục có bản đồ thường đi vào tháng giêng âm lịch đến tháng tám thì về (Nếu lương thực mang đi có 6 tháng, từ tháng ba đến tháng tám, tức từ khoảng tháng 4 đến tháng 9 dương lịch ở Quảng Ngãi là mùa khô có gió Tây Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất là vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (Tháng 9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế, việc chọn thời gian hoạt động trên của đội Hoàng Sa là một lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân.

Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải có nhiệm vụ thu lượm các sản vật từ các tàu đắm, các hải sản quý từ vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Ngoài ra, về sau còn đảm trách đi xem xét, đo đạc thủy trình vùng Hoàng Sa.

Riêng về nhiệm vụ do thám và bảo vệ vùng biển Hoàng Sa nhằm chống lại nạn cướp thì đơn xin phường An Vĩnh tách khỏi xã An Vĩnh ngày 01 tháng 02 năm Gia Long thứ 3 (1804) đã ghi rõ nhiệm vụ này. Ngoài ra, chức cai đội Hoàng Sa kiêm chức cai cơ Thủ ngự mà Thủ ngự lại có nhiệm vụ do thám ngoài biển. Nhiều tài liệu cho biết cai đội Hoàng Sa kiêm quản cai cơ Thủ ngự như Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhất kỷ, quyển XXII ghi rõ : Võ Văn Phú được sai tái lập đội Hoàng Sa, chính khi ấy là thủ ngự cho cửa biển Sa Kỳ.

Như thế, nhiệm vụ của đội Hoàng Sa rất nặng nề, không thuần túy về kinh tế, khai thác tài nguyên mà còn làm công tác xem xét, đo đạc thủy trình, do thám trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nhất là trong các thời kỳ chúa Nguyễn và đầu nhà Nguyễn.

Đội Hoàng Sa là một tổ chức nhà nước, vừa mang tính chất dân sự vừa mang tính chất quân sự; vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn.
Đứng đầu đội Hoàng Sa là một "cai đội", những thành viên trong đội được gọi là "lính". Đó là những quân nhân đi làm nhiệm vụ do vua ban.

Thời chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất đinh để thực hiện những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa. Số lượng 70 suất là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa. Cũng theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã gọi những người trong đội Hoàng Sa là "dân binh", và mỗi thuyền của đội Hoàng Sa có số lượng là 10 dân binh: Năm Càn Long thứ 17 (1754) một thuyền của đội Hoàng Sa gặp bão làm cho 10 dân binh trên con thuyền đó bị nạn, hai người trôi dạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam), còn 8 người khác bị mất tích.

Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ, là ngôi miếu Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu cá voi (tương truyền do binh đội Hoàng Sa đưa từ Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng Sa, ngôi miếu này bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.

Tại Cù Lao Ré nay là huyện đảo Lý Sơn vẫn còn Âm Linh tự, tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây, xã An (hay Lý) Vĩnh, tức phường An Vĩnh xưa và Âm Linh tự ngoài trời ở xã Lý Hải tức phường An Hải xưa. Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng xã An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ. Hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, đến ngày nay vẫn còn các nhà thờ các tộc họ, các đình làng.


< Bìa sách Hải ngoại kỷ sự (Trung Quốc), Bản in trong tứ khố toàn thư, ghi nhận Hải đội Hoàng Sa, Hải đội Bắc Hải của Việt Nam.

Trong buổi tế sống lính Hoàng Sa đó, họ làm những hình nộm bằng khung tre và giấy ngũ sắc để giả hình người và đem tế tại đình. Tế xong họ đốt đi hoặc đóng thuyền bằng thân cây chuối đặt hình nộm lên và thả trôi ra biển gọi là ‘Khao lề thế lính Hoàng Sa’ còn gọi là ‘Lễ tế sống lính Hoàng Sa’ với quan niệm các hình nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy, tai nạn trên biển thay cho đội Hoàng Sa và cầu mong cho người thân của họ bình an trở về. Ngày nay tại các nhà thờ tộc họ có người đi lính Hoàng Sa đều có tổ chức tục lệ như thế và hiện tại gia đình các tộc họ cũng còn giữ bài văn khao thế lính Hoàng Sa vừa bằng chữ Hán vừa bằng chữ Nôm.

Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên, đội Hoàng Sa thu lượm những hải vật quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi, có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai châu, song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng dát các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).

Quan trọng nhất là các hàng hóa từ các tàu đắm mà Toản tập thiên Nam tứ chí lộ đồ thư viết rằng hàng hóa thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ biên tạp lục thì ghi: những đồ hải vật như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ.

Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hóa trong Phủ biên tạp lục, có viết: Tra khảo sổ biên của cai đội Thuyền Đức Hầu (người chỉ huy đội Hoàng Sa) trong nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa, cụ thể như sau :
- Năm Nhâm Ngọ (1702), đội Hoàng Sa lượm được bạc 30 thoi.
- Năm Giáp Thân (1704), lượm được thiếc 5100 cân.
- Năm Ất Dậu lượm được bạc 126 thoi.
Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Qúy Tỵ (1713) tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và 2 khẩu súng đồng.


< Hải quân Việt Nam luôn chắc tay súng giữ gìn biển đảo quê hương.

Đội Hoàng Sa còn được giao nhiệm vụ kiêm quản đội Bắc Hải, một tổ chức được lập ra để thực thi nhiệm vụ trên khu vực quần đảo Trường Sa. Đội Bắc Hải được thành lập sau đội Hoàng Sa vào khoảng trước năm 1776. Địa bàn hoạt động của đội Bắc Hải chủ yếu là ở khu vực quần đảo Trường Sa, khu vực biển Côn Sơn, Hà Tiên,...

‘Họ Nguyễn còn thiết lập đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm nhiệm vụ’.
‘Những người được bổ sung vào độ Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt, như tiền đi qua đồn tuần, qua đò’.

‘Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi, hải ba, đồn ngư (cá heo lớn), lục quý ngư, hải sâm’.
Các sử sách được viết vào thế kỷ XIX như Đại Nam thực lục tiền biên, soạn xong năm 1884, Đại Nam nhất thống chí, soạn xong năm 1882, cũng đã ghi nhận hoạt động của đội Bắc Hải.

Du lịch, GO! - Tổng hợp báo Thanhnien (Lược trích từ sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông)

Sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông”, Chủ biên Ts Trần Công Trục, khẳng định Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục, hòa bình, ít nhất là từ thế kỷ XVII.

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Ngao du mùa hè thì đến xứ sở nào cũng thú vị. Nhưng có lẽ dưới cái nắng rực rỡ, bầu trời cao và trong xanh, những hòn đảo được ôm ấp bởi biển xanh, những bãi cát hoang vắng được vỗ về bởi sóng nước... mới là những điểm hẹn lý tưởng.

< Đảo Quan Lạn, Quảng Ninh.

Việt Nam với bờ biển dài sở hữu thật nhiều những hòn đảo tuyệt đẹp. Có nơi đã trở thành điểm hẹn quen thuộc mỗi mùa hè, có nơi còn hoang vắng đang đợi bước chân người khám phá. Thế nên, ngoài những hòn đảo đã quá quen thuộc như Phú Quốc (Kiên Giang) hoặc Tuần Châu (Quảng Ninh) hay hòn Ngọc Việt (Nha Trang)..., còn biết bao nhiêu hòn đảo hoang sơ thú vị khác đang chờ bạn.


Đảo Cát Bà, Hải Phòng

Nằm ở phía nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30km, Cát Bà từ lâu được biết đến như một điểm du lịch lý tưởng của mùa hè miền Bắc.

Hiện nay, có rất nhiều cách để có thể đến với Cát Bà. Khách du lịch với hành trình dài ngày có thể đi du thuyền trên vịnh Hạ Long rồi sang Cát Bà. Cũng có thể đi tàu cao tốc hoặc tàu cánh ngầm (mỗi ngày đều có chuyến) từ Bến Bính (Hải Phòng) để đến đây. Còn nếu bạn yêu thích khám phá tự do, có thể tự mình đi đường bộ từ Hải Phòng qua phà biển Đình Vũ, ngao du ở Cát Hải trước khi tiếp nối một chuyến phà khác là phà Bến Gót để từ Cát Hải đến với Cát Bà.

Bạn có thể thuê một chiếc thuyền đánh cá của người địa phương hoặc một chuyến tàu du lịch để thẳng tiến ra biển. Thuyền bạn có thể vòng quanh vịnh Lan Hạ và ngắm cảnh thỏa thích cho đến khi tìm được một bãi cát hoang vắng vừa ý để neo lại, tắm biển, thư giãn, nghỉ ngơi và thả hồn cũng sóng nước mây trời. Nếu yêu thích thể thao, bạn cũng có thể thuê một chiếc kayak và tự mình chèo đi vòng quanh các đảo để tận hưởng một mùa hè thú vị khó quên.

Đảo Quan Lạn, Quảng Ninh

Thuộc vùng vịnh Bái Tử Long, Quan Lạn là một trong những hòn đảo hiếm có giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ.

Từ Hạ Long, bạn có thể đi tàu du lịch đến Quan Lạn, hoặc có thể đi tàu khách từ bến Hòn Gai. Thêm một lựa chọn nữa dễ dàng hơn là bạn đến thẳng bến Vân Đồn thuộc huyện Vân Đồn, Quảng Ninh để đi Quan Lạn, chỉ mất khoảng 2 giờ. Còn nếu chi phí của bạn rủng rỉnh hơn, có thể thuê hẳn một chiếc canô cao tốc, tận hưởng cảm giác mạnh khi lướt canô dạo quanh Bái Tử Long trước khi đặt chân lên Quan Lạn.

Đảo Quan Lạn còn tuyệt vời hơn bởi tại đây còn có một ngôi đền cổ được xây dựng từ thế kỷ thứ 17 - tức thời Hậu Lê - cách nay gần 400 năm mà vẫn giữ lại hầu như nguyên vẹn những nét đẹp về kiến trúc và những hoa văn chạm trổ tinh vi.

Cù Lao Chàm, Quảng Nam

Thuộc xã đảo Tân Hiệp, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, Cù Lao Chàm đang mỗi ngày thu hút du khách vì một không gian mát lành yên tĩnh, cảnh quan thơ mộng hoang sơ và còn sở hữu một hệ động thực vật phong phú tuyệt vời.

Tại Hội An, bạn có thể mua một vé từ bất cứ đơn vị bán tour nào với giá 250.000-350.000 đồng/vé tùy vào chất lượng tàu và bữa ăn kèm theo. Thích mạo hiểm, bạn có thể mua vé canô để đi, giá đắt hơn nhưng chỉ 45 phút là đã được đặt chân đến hòn đảo kỳ thú này.

Tại đây, lặn biển hoặc bơi snocker ngắm san hô là hoạt động mà hầu hết mọi người đều yêu thích. Dưới làn nước biển trong xanh như ngọc, những rặng san hô óng ánh màu sắc cứ lung linh dưới đáy biển làm bạn thích thú từ khám phá này đến khám phá khác. Trên những bãi biển hoang vắng, bạn có thể mua một ít hải sản của ngư dân địa phương rồi chế biến tại chỗ để thưởng thức. Ở đây có nhiều loại sò ốc và cá đủ để bạn có những bữa ăn ngon lành.

Cù Lao Câu, Bình Thuận

So với các hòn đảo khác, Cù Lao Câu có lẽ còn hoang sơ hơn cả. Và cũng ít ai biết được nơi đây một “bảo tàng đá” với vô vàn tảng đá muôn hình thù bao quanh đảo, tạo nên cảnh sắc kỳ thú tuyệt vời.

Từ xã Phước Thể, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, bạn có thể hỏi thuê một chiếc tàu đánh cá với giá 700.000-1 triệu đồng để ra Cù Lao Câu. Canô thì di chuyển nhanh hơn, có giá 1,8-2 triệu một chuyến bao gồm cả đi về. Nhưng những ai yêu thích khám phá thì thích đi tàu ngư dân hơn vừa mang lại cảm giác bồng bềnh trên sóng nước, vừa có thể ngắm cảnh và chụp ảnh.

Tắm biển, câu cá, dạo chơi ở Cù Lao Câu đều thật tuyệt vì nơi đây còn quá hoang sơ. Nếu may mắn gặp một mẻ lưới của ngư dân được ít cá tươi hay mực tươi, bạn có thể mua để chế biến ngay và thưởng thức. Tuy vậy, bạn cần chuẩn bị lương thực từ đất liền cùng với nước ngọt cho chuyến đi của mình. Trên đảo cũng không có chỗ nghỉ lại, chỉ có một trạm biên phòng nhỏ, cho nên nếu muốn qua đêm tại đây để sớm mai ngắm được bình minh, bạn phải đăng ký trước với trạm trưởng.

Côn Đảo, thiên đường xanh

Một vùng đất thanh bình và trong lành, một hòn đảo mà gió và sóng biển luôn hào phóng, kiêu hãnh và lãng mạn, đấy chính là Côn Đảo, nhiều năm gần đây được xem là thiên đường xanh vào những ngày hè.

Biển xanh bao bọc lấy quanh đảo, gió hồ hởi và vồ vập trên mỗi bước chân qua. Ở bãi Đầm Trầu, nước xanh và phẳng lặng như mặt hồ. Được mấy dãy núi xanh xung quanh ôm ấp, bãi biển này trở nên dịu dàng như một cô gái đương thì. Bãi cát lài và phẳng lặng, mặt biển yên tĩnh và biếc xanh, đẹp đến ngỡ ngàng.

Dạo chơi quanh Côn Đảo, cảm giác sảng khoái càng lúc càng nhiều hơn. Chỉ cần thuê một chiếc xe gắn máy của người địa phương, đổ đầy bình xăng là có thể vi vu ngao du sơn thủy. Sau khi viếng nghĩa trang Hàng Dương, thăm mộ chị Võ Thị Sáu, thăm miếu bà thứ phi Hoàng Phi Yến, bạn có thể trên ngựa sắt rong ruổi ra mũi Cá Mập, mũi Tà Bê để nhìn biển Côn Đảo ở các góc nhìn khác nhau.

Khi đói lòng, có thể ghé đến những nhà hàng ở đây và gọi món ốc vú nàng nổi tiếng hoặc món cá bò hộp nướng đặc sản Côn Đảo sẽ thấy chuyến đi của mình càng thú vị hơn bội phần.

Du lịch, GO! - Theo Huỳnh Thu Dung (TTO), internet