Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Người dân một số địa phương ở thị xã Cửa Lò, Nghệ An hình thành được nghề nướng cá thu. Đây được coi là nét độc đáo, góp phần làm hấp dẫn thêm cho du lịch biển Cửa Lò.

Từ nhiều năm nay, các gia đình ngư dân ở khối Hải Giang 2, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò mở ra nghề nướng cá thu. Lúc đầu chỉ một vài hộ tham gia, nhưng đến nay trên địa bàn phường đã có trên 50 hộ làm nghề. Nhiều gia đình ở phường Nghi Hải cho biết, lúc đầu chỉ nghỉ đơn giản, nhà ở gần cảng cá Cửa Hội và gần chợ Mai Trang là chợ cá lớn của tỉnh Nghệ An, có điều kiện mua bán, tiếp xúc nhiều với các loại cá, trong đó có cá thu nên các gia đình thường mua cá về nướng với mục đích để giữ cá được tươi ngon, không ươn, dùng để sử dụng lâu dài cho gia đình.

Về sau, nhiều người dân ở các địa phương khác, trong đó có cả khách du lịch khi đến Cửa Lò đã tìm đến để hỏi về cách nướng cá cũng như muốn  tận mắt chứng kiến cách nướng cá của người dân ven biển nên cũng từ đó nghề nướng cá trên địa bàn phường phát triển.

Giờ đây, nghề nướng cá không chỉ có ở phường Nghi Hải mà còn xuất hiện ở nhiều phường khác ở thị xã Cửa Lò. Lúc này, nướng cá thu đã trở thành một nghề không chỉ mang lại thu nhập cho các hộ nướng cá mà đang trở thành một nét đẹp độc đáo, hấp dẫn du khách khi đến với biển Cửa Lò. Đối với du khách khi đến Cửa Lò, thực đơn trong các bữa ăn, món không thể thiếu đó là cá thu nướng, đặc biệt hấp dẫn là món đầu, đuôi cá thu nướng. Nhiều du khách coi đây là món ăn ẩm thực độc đáo ở vùng biển xứ Nghệ, ăn một lần để rồi nhớ mãi.

Cá thu nướng là món ăn ngon, bổ, so với các món ăn biển khác thì đây cũng là món ăn có giá cả vừa phải, không quá cao nên bất cứ du khách nào cũng có điều kiện để thưởng thức nếu muốn. Không chỉ thưởng thức cá thu nướng, nhiều du khách khi đến với biển Cửa Lò còn tự tìm đến các “làng nghề” nướng cá, tự tay chọn cá thu tươi nguyên và đặt cho các hộ dân nướng, còn mình chứng kiến từ đầu đến cuối cả quy trình nướng.

Tham quan các làng chài ven biển, tận mắt chứng kiến cuộc sống của người dân ven biển, trong đó có nghề nướng cá thu cũng là một nét đẹp, độc đáo, hấp dẫn du khách; nhiều du khách khi đến Cửa Lò không bỏ lỡ cơ hội để được đến xem nghề nướng cá. Bà Nguyễn Hải Vân- người nướng cá thu ở phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò cho biết : “Cái quan trọng của nghề nướng cá thu là phải giữ được chữ tín, trong đó quan trọng nhất là chất lượng cá trước lúc đưa vào nướng phải tươi, ngon, không ươn, cá nướng lên nhìn phải bắt mắt, ăn phải thơm ngon”.

Để chọn được cá tươi, ngon, ngay từ sáng sớm hàng ngày, các hộ nướng cá đã phải đến các bến cá, chờ tàu khai thác thủy sản về để chọn mua cá tại gốc. Người dân vùng biển nhìn cá là biết con nào tươi ngon, con nào không để chọn mua, không vì ham rẻ mà chọn những con cá có chất lượng kém hoặc cá trôi nổi trên thị trường. Đối với người dân ven biển Cửa Lò, nghề nướng cá cũng có những “bí quyết” riêng để cá nướng lên không quá cháy, thịt cá chín đều, vẫn giữ được mùi vị thơm ngon.

Hiện nay, các hộ nướng cá thu đã trở nên “chuyên nghiệp” hơn trong cách nướng và cách phục vụ du khách. Các nhà hàng, khách sạn ở Cửa Lò khi cần, chỉ cần điện thoại đặt trước là các hộ nướng cá thu cho người đem đến tận nơi để phục vụ du khách. Khi đặt mua cá thu nướng ở Của Lò, du khách hoàn toàn yên tâm không lo mua dùng phải loại cá kém chất lượng hoặc không đạt số kg đặt mua.

Không chỉ là món ăn trong thực đơn đi biển, du khách còn có thể đặt mua cá thu nướng đem về. Tùy theo số lượng và nhu cầu đặt mua con to, con nhỏ của du khách, sau khi nướng xong cá, người nướng cá gói ghém, bỏ vào thùng xốp cẩn thận cho du khách, bảo đảm khi vận chuyển cách xa hàng trăm km, đi đường xa trong một vài ngày, cá vẫn tươi nguyên, không bốc mùi, khi ăn vẫn thấy cá thơm ngon, giữ được mùi vị như khi ăn tại nơi mua.

Tiếng lành đồn xa, món cá thu nướng hấp dẫn không chỉ du khách trong nước khi đến với biển Cửa Lò mà còn đối với khách du lịch đến từ Lào. Do vị trí địa lý cách không xa Lào, lại là vùng biển hấp dân nên từ nhiều năm nay Cửa Lò là một trong những địa phương ven biển được nhiều du khách Lào chọn làm nơi nghỉ mát. Anh Bun Lửa Xin, phóng viên của Thông tấn xã Lào (KPL) là người có nhiều lần đến Cửa Lò cho biết: “Nhiều du khách của Lào khi từ biển Cửa Lò về nước thường mua cá thu nướng để cho gia đình dùng trong bữa ăn hàng ngày hoặc làm quà gửi tặng bạn bè, người thân”. Anh cũng đã nhiều lần "săn" được nhiều tấm ảnh đẹp về nghề nướng cá thu ở Cửa Lò.

Cửa Lò đã và đang trở thành khu du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Trong xu thế đô thị hóa thì những nét đẹp dân dã, bình dân của người dân ven biển, trong đó có nghề nướng cá thu vẫn giữ được những nét độc đáo, mang đậm bản sắc riêng của người dân vùng biển. Những nét độc đáo này đang góp phần quan trọng làm cho diện mạo du lịch biển Cửa Lò thêm nhiều “màu sắc” để rồi hấp dẫn, thu hút du khách.

Lãnh đạo UBND Thị xã Cửa Lò cũng cho biết, luôn khuyến khích, tạo điều kiện để người dân phát triển, giữ vững được các ‘thương hiệu” cũng như các nghề truyền thống liên quan đến biển. “Thương hiệu” cá thu nướng Cửa Lò sẽ mãi vươn xa, luôn cố gắng giữ được chữ tín để hấp dẫn du khách bốn phương khi đến với vùng biển hấp dẫn, độc đáo bậc nhất xứ Nghệ này.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Văn Nhật (bao Haiquan), internet

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Vị Thủy (Thái Bình), từ đám cưới, đến đám ma, tân gia... không thể thiếu các món từ thịt heo sống. Hầu hết người làng Vị Thủy từ các cụ già cho đến thanh niên đều chế biến được món thịt sống.

< Mâm cỗ không thể thiếu món nem.

Ăn chín uống sôi, đặc biệt là các loại động vật là thói quen văn minh của con người hằng ngàn năm nay. Tuy nhiên, cũng có một số loại thực phẩm ăn theo kiểu gỏi thì ngon và dinh dưỡng hơn như gỏi cá, gỏi tôm. Người Nhật, người Hàn xơi đều đều cá biển sống có sao đâu, lại còn sống thọ là khác.

Ở nước ta, cũng có một số loại thực phẩm không cần nấu chín mà để lên men hay để khô tự nhiên ăn khá ngon như nem chua, đậu phụ nhự, trâu gác bếp...

Có những người ăn thủy tinh, đất sét, mút, nhựa... đó là những dị nhân rồi. Kể cả anh Ngô Văn Tùy ở đảo Lý Sơn xơi tất cả các loại động vật đều sống như cá, rắn, giun, gián, chuột... cũng thuộc hàng dị nhân. Nhưng có một ngôi làng ở vùng biển Thái Bình mà ở đó, nam phụ lão ấu đều xơi thịt heo sống thì quả là một hiện tượng.

Ăn sống vô tư, không lo đau bụng

Đó là làng Vị Thủy thuộc xã Thái Dương, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Ngôi làng này rất đẹp, nằm lọt giữa hai con sông. Con sông cuối làng nặng đỏ phù sa cung cấp nước cho ruộng đồng, con sông đầu làng nước xanh ngắt thoát ra biển. Đường làng thẳng tắp, cây cối xanh rì, quả là phong thủy hữu tình!

Ở Vị Thủy, từ đám cưới, đến đám ma, đám giỗ, tân gia... đều không thể thiếu các món chế biến từ thịt heo sống. Người nổi tiếng làm món thịt heo sống ở làng Vị Thủy là ông Đinh Văn Chính. Ông Chính bảo, mấy chục năm làm món thịt sống, song ông chưa từng thấy ai bị đau bụng, bị tào tháo rượt sau khi ăn.

Để món ăn này an toàn, những người chế biến cũng phải có những nguyên tắc bất di bất dịch. Đó là không được rửa thịt qua nước lạnh. Các đồ chế biến như dao, thớt cũng không được rửa bằng nước lã, mà nhất thiết phải rửa bằng nước sôi hoặc bằng nước sôi để nguội pha muối loãng.

Nếu là thịt mua ở chợ, đã để ra ngoài vài tiếng, thì người ta thường nhúng vào nước sôi vài giây, để vi trùng bám ngoài miếng thịt chết. Còn thịt cắt ra từ con heo vừa mổ thì không cần nhúng nước, vì theo người dân nơi đây, nếu thịt chín tái sẽ giảm độ ngọt khi ăn.

Chỉ đàn ông mới làm được

Điểm chính khiến món ăn này an toàn là tỏi. Để chế biến một ký thịt sống, phải cần đến một bát đầy tỏi bóc lõi. Tỏi được giã giập, rồi trộn với thịt sống đã băm nhuyễn cho đều. Tỏi sẽ làm nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ vi trùng, virus, giun sán có trong thịt. Vì đã trộn một lượng tỏi lớn vào thịt, nên không cần vắt chanh vào thịt, không cần để lên men, có thể ăn ngay sau khi chế biến.

Hầu hết người làng Vị Thủy từ các cụ già cho đến thanh niên đều chế biến được món thịt sống. Và chỉ đàn ông mới làm được món này, chưa thấy người phụ nữ nào làm được cả. Đàn ông ở Vị Thủy đều rất giỏi giang trong việc nấu ăn. Phụ nữ thường chỉ làm được vài món đơn giản, không làm được món phức tạp, cỗ lớn.

Nguồn gốc của món thịt sống này từ đâu? Theo một số cụ già ở Vị Thủy thì ông tổ lập ra làng có họ Phạm, di cư từ Thanh Hóa ra vùng ven biển này cách đây khoảng 700 năm. Mà Thanh Hóa thì vốn nổi tiếng với món nem chua nên món thịt sống ở Vị Thủy có lẽ cũng là một nhánh của nem chua. Có điều người Vị Thủy không dùng men gì hết, không cần phải đợi vài ngày để nem chín, băm thịt sống ra là lên đĩa chén ngay.

Đến xương cũng ăn sống

Người làng Vị Thủy không chỉ ăn món thịt sống, mà họ còn ăn cả xương heo sống. Xương sườn được tách ra từ con heo vừa mổ xong, để nguyên cả lớp thịt nạc dày chừng 0,5 - 1cm bám ở ngoài. Người ta cũng dùng sống dao rựa dần đều tay, cần mẫn. Chính vì băm xương, nên loại thớt phải là thớt nghiến, bền, cứng, không lên mùn.

Để băm được 1kg xương sườn nát nhừ, phải mất 2-3 tiếng đồng hồ, do đó, người không có tính kiên nhẫn, thì không thể chế biến được món này, vì nếu cứ băm hùng hục, rồi lại nghỉ, xương sẽ nhừ không đều, mà chỗ nát, chỗ lổn nhổn, ăn lạo xạo. Băm xương đến khi nào sờ thấy mịn, mát tay thì rắc thêm mì chính, bột canh, mắm cốt cho đậm đà. Các loại rau thơm như mùi tàu, răm cũng được trộn vào xương băm nhuyễn.

Khi những khúc xương đã nhừ thành một thứ bột mịn, dẻo quánh, thì trộn gạo rang đã giã thành bột vào. Những giọt nước chảy ra trong quá trình băm xương được giữ lại, trộn vào để món xương dẻo quánh, đỡ khô. Món này được người Vị Thủy gọi là chạo.

Vì món ăn này tốn kém thời gian nên ít được sử dụng. Nó thường chỉ xuất hiện trong các bữa giỗ. Con cháu tụ họp cùng băm chặt chan chát trong ngày giỗ cho vui tai, tăng thêm sự gần gũi, tình cảm.

Du lịch, GO! - Theo Thế giới & Hội nhập, ảnh internet

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

Mùa hè, mùa nuớc các dòng sông cạn nhất trong năm cũng là thời điểm những bạn nơm ở ven sông Đế Võng, đoạn chảy qua giữa xã Cẩm Hà và phường Cẩm An, TP Hội An, Quảng Nam rủ nhau đi nơm cá.

< Những buổi nơm thường diễn ra vào buổi chiều, sau giờ làm việc, cũng là lúc con nước ròng (cạn) nhất.

Đi nơm là một cách bắt cá và cũng là thú vui có từ lâu của những cư dân miền xuôi. Ngày xưa tín hiệu báo có nơm bằng những tiếng "hú..." dài. Ngày nay công nghệ phát triển, những bạn nơm rủ nhau bằng điện thoại di động. Những bạn nơm ở xa thì đi nơm bằng xe máy.

< Xách nơm qua đoạn nước sâu.

"Nghề" nơm không phân biệt già trẻ, nam nữ. Ai ham vui thì tham gia vây cá mỗi khi đến con nước ròng. Và cũng không phân biệt người nơm giỏi hay nơm kém, nơm một chiếc hay cả đôi mà do may, rủi.

< Chỗ nước sâu một người khó bắt cá trong nơm nên phải nhờ một bạn nơm cùng bắt.

Mỗi buổi nơm thu hút hàng chục có khi cả trăm người tham gia. Không khí diễn ra sôi nổi, mỗi khi có cá lớn là mọi người ồ lên trông rất vui.

< Hầu như buổi nơm nào vợ chồng anh Kiềm, chị Ba cũng đều tham gia.

Có người ham vui nhưng ngại xuống nước nên chỉ đứng trên bờ xem, đặc biệt khách du lịch khi thấy nơm thể nào cũng dừng lại xem và hào hứng chụp ảnh.

< Em Thanh,17 tuổi, đi nơm cùng bố, chưa quen nên em chỉ nơm một chiếc.

Người đi nơm dù may mắn bắt được nhiều nhưng hiếm ai mang ra chợ bán mà thường mang biếu bà con, xóm giềng hay chia sẻ với những bạn nơm kém may mắn.

Du lịch, GO! - Theo Lê Văn Ánh (TTCN)

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Những ngày cuối năm với ảnh hưởng cơn bão số 5 nên trời Hà Nội mưa tầm tã. Thế nhưng khi tới thăm làng lụa Vạn Phúc (Q. Hà Đông), chúng tôi vẫn bắt gặp khá nhiều du khách trong và ngoài nước tới tham quan, say sưa xem các quy trình dệt lụa

Du lịch làng nghề

Ghé thăm cơ sở sản xuất của nghệ nhân Triệu Văn Mão (người nổi tiếng là sành nghề dệt từ năm 7 tuổi) nằm ngay trên con phố đầu tiên vào làng, chúng tôi được chị Nguyễn Thị Tâm (con dâu của ông Mão) đưa đi tham quan nơi trưng bày, bán các sản phẩm lụa và xưởng dệt. Trong tiếng dệt lụa lách cách nơi hàng chục nữ nghệ nhân đang làm việc bên khung dệt, chị Tâm kể: “Nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có từ hơn 1.000 năm trước.

Gia đình tôi cũng theo nghề cha truyền con nối. Ðể tạo ra những sản phẩm tơ lụa tuyệt hảo, người thợ phải trải qua nhiều quy trình kỹ thuật với nhiều công đoạn như khâu tơ, khâu hồ sợi, khâu dệt, khâu nhuộm. Mỗi khâu đều phải tiến hành theo những quy trình nhất định, đặc biệt tất cả các công đoạn đều phải làm thủ công mà không được dệt bằng máy, đòi hỏi người thợ phải tinh mắt, nhanh tay”.

Lụa Vạn Phúc xưa nay nổi tiếng bền đẹp, mát, mịn óng, đường nét tinh tế, không thể lẫn với những loại lụa khác nên được du khách trong nước và nước ngoài ưa chuộng. Theo lời một số nghệ nhân, trước đây các hộ ở làng nghề chỉ biết sản xuất ra lụa, còn chuyện tiêu thụ phải phụ thuộc vào các chủ hàng. Thế nhưng, từ khi phát triển du lịch làng nghề, các cơ sở vừa sản xuất, vừa bán trực tiếp nên rất chủ động về đầu ra, không bị đọng vốn, lợi nhuận cao hơn.

Bên cạnh đó du khách còn được tìm hiểu quy trình làm ra một tấm lụa. Để thu hút khách, một số hộ gia đình còn có sẵn máy dệt cho khách “thử tay nghề” và hướng dẫn nhiệt tình cách quay tơ, dệt lụa… Ðó chính là điểm hấp dẫn làm tăng lượng khách du lịch tới đây.

Chị Nguyễn Thị Liên, chủ tiệm lụa Sinh Silk cho biết: “Từ khi làng nghề làm theo hướng du lịch, lượng khách đến cửa hàng nhiều hơn. Sức mua – bán cũng tăng đáng kể do hiệp hội làng nghề kết hợp với các hãng du lịch tổ chức đưa khách du lịch tham quan, thực hiện các chương trình truyền hình quảng bá nét độc đáo, đặc sắc của làng nghề tới công chúng. Đáp ứng thị hiếu của khách hàng, nhiều cửa hàng đã làm các sản phẩm từ lụa rất đa dạng với đủ loại màu sắc, giá cả cạnh tranh như: túi xách, ví đựng tiền, đựng điện thoại di động, khăn quàng cổ, quần áo thời trang, áo ấm mùa đông…”.

Ướm thử một tấm vải lụa vào người, chị Mary- du khách người Anh cười nói: “Lụa VN rất đẹp, mịn và hoa văn sắc sảo. Tôi  rất thích. Ở đây có dệt lụa theo yêu cầu của khách hàng nên tôi sẽ chọn những tấm vải ưng ý nhất để dệt làm quà cho bạn bè, người thân”.

Chị Mai Lâm– hướng dẫn viên một công ty du lịch tại Hà Nội cho biết, làng lụa Vạn Phúc là điểm du lịch được công ty thường xuyên chọn đưa khách đến tham quan. Đến đây, du khách không những có dịp mua các sản phẩm chất lượng mà còn được tìm hiểu thêm một nét văn hóa Việt.

Đầu tư, phát triển nhưng vẫn còn bấp bênh

Ông Nguyễn Văn Sinh– Chủ tịch Hiệp hội làng nghề dệt lụa Vạn Phúc cho biết: Từ 10 năm trước, làng lụa đã làm du lịch chuyên nghiệp song từ năm 2010 mới có kế hoạch phát triển du lịch làng nghề. Theo đó, thành phố cho phép các cơ sở dệt lụa mở cửa hàng đặt tên là phố lụa Vạn Phúc, đường làng được rải nhựa, các công trình miếu mạo, đền thờ ở làng được trùng tu khang trang…

Hiệp hội làng nghề kết hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Công thương để thu hút khách du lịch. Các hộ dệt lụa bổ sung thêm máy móc để giải phóng sức lao động nặng nhọc, năng suất cao hơn nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng, doanh thu cao. Cụ thể: Năm 2009 doanh thu của làng lụa Vạn Phúc đạt 45 tỷ đồng, năm 2010 tăng lên 60 tỷ đồng và năm 2011 dự tính đạt 65 tỷ đồng.

Hiện nay, phường Vạn Phúc có 13.000 nhân khẩu, trong đó 2/3 dân số sống bằng nghề dệt. Cả làng có 400 máy dệt thì 200 máy còn hoạt động, chưa kể có khoảng 400 lao động thời vụ từ quanh vùng đến đây làm việc. Cửa hàng bán lụa tơ tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên 150 cửa hàng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách. Chị Hoàng Oanh (quê Quốc Oai) nói: “Với công việc bán hàng, tôi được trả lương từ 2-2,5 triệu đồng/ tháng, còn thợ dệt ăn theo sản phẩm, được trả từ 2,5- 3 triệu đồng/ tháng”.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, vài năm trở lại đây giá nguyên liệu tăng lên đáng kể, nhất là từ năm 2009 tới năm 2010 giá tơ đã tăng gần gấp đôi, trong khi đó các sản phẩm bán ra chỉ tăng chút ít. Nguồn nguyên liệu không ổn định, đầu ra phụ thuộc vào lượng khách du lịch nên một số người dân dù rất yêu nghề nhưng không thể sống nhờ nghề truyền thống, đành ngậm ngùi bỏ nghề.

Lụa Vạn Phúc

Du lịch, GO! - Theo Quỳnh Mai, Tuấn Ngọc (Phunuonline)

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Một làng nghề gốm trên 200 năm trải qua bao nhiêu hưng thịnh nằm giữa con đường nhỏ của làng quê, cách Nha Trang chỉ 10 phút xe chạy đang là điểm gây sự tò mò cho du khách trong những chuyến rong chơi đến Nha Trang. Làng gốm Lư Cấm.

Làng gốm Lư Cấm nằm ở thôn Lư Cấm, xã Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang. Gọi là làng gốm nhưng giờ đây gần như chỉ còn là một nghề duy nhất: sản xuất lò đất nung. Chỉ mổi chiếc lò đất thôi cũng đã thực sự tạo ra bao nhiêu công ăn việc làm cho người dân ở đây, và quả thật đây là một nghề đặc biệt, vẫn tồn tại theo năm tháng dẫu cuộc sống đã có nhiều đổi thay, người thành phố đã chuyển từ bếp củi, bếp lò than sang bếp ga, bếp điện…

< Các nghệ nhân tạo hình, làm khuôn cho bếp đất nung.

Chuyện kể, cách đây dễ chừng khoảngg 200 năm, khi đó đường thủy rất hưng thịnh. Làng gốm Lư Cấm nằm bên bờ sông Cái, sản xuất các mặt hàng gốm đa dạng như lu, vại, lò, bình… đuợc đưa xuống thuyền vận chuyễn đến nhiều nơi, vào tận Phan Rang, ra tận Phú Yên. Hiện tại đình Lư Cấm vẫn còn văn tự thờ ông tổ gốm ngày xưa.

Sau đó, con đường thủy không còn phát huy hiệu lực, hàng gốm lại được các lái buôn tới tận nơi mua, chủ yếu là gánh hoặc tải trên xe đạp đi khắp mọi miền chào bán. Gốm Lư Cấm được sản xuất bởi đất sét Vĩnh Thạnh cho nên có màu sắc tươi đỏ, hồng rất đẹp. Người thợ gốm sản xuất có tay nghề cao cho nên món hàng có tuổi thọ lâu.

< Bếp được tạo hình xong cho vào lò nung ở nhiệt độ cao 2-3 ngày.

Sau hơn hai trăm năm dâu bể ấy, giờ đây mọi người biết đến nghề gốm Lư Cấm dưới hình thức sản xuất lò đất. Chiếc lò đất tại đây rất được ưa chuộng và mổi năm, vào những ngày cận tết, hàng sản xuất không kịp bán. Bởi dẫu cho các lọai bếp khác đã dành thị trường, các gia đình vẫn có thói quen giữ trong nhà mình một chiếc lò đất với mục đích dùng để đốt than và nướng thịt. Bởi nướngg bằng bếp than thì thức ăn mới thực sự ngon miệng.

Tôi đến làng gốm Lư Cấm vào những ngày cuối năm. Con đường có rất nhiều lò đang phơi để chuẩn bị bỏ vào lò đốt. Trong ánh nắng ban mai, những chiếc lò như làm duyên cho con đường quê êm ả này.

Tại một khu đất diện tích rộng cả ngàn mét vuông là của gia đình a nh em ông Xương, ông Giảm, ông Giám… Theo ông Xương thì đây là nhà làm gốm Lư Cấm có tính kế thừa lâu đời, có tính cha truyền con nối. Cách đây 10 năm, truớc sân nhà còn một lò đốt có thể nung một lần vài ngàn chiếc lò. Đây là chiếc lò cổ có tuổi đời trên 50 năm. Nay vì do nhu cầu tiêu dùng có giảm, nên đã thay thế bằng hai lò nung với công suất 500 và 1000 lò một lần nung.

Khu vực lò gốm làm lò đất thật rộn rịp. Hình dung ra chiếc lò đất chỉ với cấu trúc đơn giản như thế những phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau để hoàn thành. Đất sét được mua với giá 100 ngàn/xe công nông. Đất được trộn, nhồi với nước cho nhuyễn, rồi theo kinh nghiệm chia ra từng phần nhỏ, mỗi phần đủ tạo ra một chiếc lò. Khung làm lò bằng tôn, để tránh đất sét dính vào khuôn, tro được dùng để thao bao quanh. Rồi từ mẫu khuôn đầu tiên ấy tới công đoạn tạo dáng lò, gắn thêm các quai lò, làm cửa lò và vĩ lót lò. Lò làm xong tùy theo trời nắng gắt hay không mà được đem phơi từ 24-48 giờ, sau đó đặt vào lò nung.

Lò nung lò cũng giống như lò nung gạch, thường được nung liên tục trong vòng 24 giờ bằng củi hoặc trấu. Khi đó, lò đã chín với màu đất đỏ rất đẹp. Công đoạn cuối cùng là đợi lò đã nguội, gắn vỉ lót vào để đem ra thị trường tiêu thụ. Hiện giá một chiếc lò nung thành phẩm bỏ mối là 8000 đồng. Người mua về lại làm thêm vỏ bọc bằng tôn để giữ độ bền, tới tay người tiêu dùng từ 18-20 ngàn/ lò.

< Cho ra thành phẩm là những chiếc bếp ông Táo (có 3 cạnh để đặt nồi). Nung càng chín thì bếp càng có màu đỏ đẹp.

Làng gốm Lư Cấm gần như không có ý sản xuất thêm một lọai sản phẩm gốm nào khác. Bởi dẫu số phận của chiếc lò đất đã bị xô dạt bởi các lọai phương tiện làm bếp khác, nhưng đây là loại lò “cổ truyền” vẫn chưa bị mai một. Lò sản xuất tại Lư Cấm lại được thị trường ưa chuộng bởi tạo dáng đẹp, màu lò đẹp còn có độ bền cao và khi sử dụng lò, sức nóng được giữ tốt.

Với các tour du lịch ở Nha Trang, đi thăm làng gốm Lư Cấm là một phần không thể thiếu, nhất là việc tạo cảm giác cho du khách nước ngoài. Bởi chiếc lò đất ấy có mấy người nước ngoài nhìn thấy họăc chạm tay vào?

Cũng trong tour tham quan làng gốm Lư Cấm, khách cũng có thể nhập cuộc để trở thành một người thợ lò thật sự . Họ cùng nhồi đất, cùng đưa đất vào khuôn, cùng dùng bán xoay tạo dáng. Cảm giác khi đích thân mình làm ra một chiếc lò đất là một điều thích thú.

Bên cạnh đó, các đơn vị du lịch thỉnh thoảng cũng đặt hàng cho làng nghề làm những chiếc lò đất mini để làm quà lưu niệm cho khách. Điều đáng tiếc là nếu đến làng gốm vào những ngày bình thường, bạn khó mà mua được một chiếc lò gốm nhỏ để chưng trong phòng khách của mình vì tại đây không làm sẵn.

Du lịch, GO! - Theo Yume

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Đối với những người yêu hoa, Hiệp An là một địa chỉ không thể bỏ qua trong những ngày cận tết. Đồng thời, đây cũng là một nơi tuyệt vời cho những ai muốn xem hoa và mua hoa về chưng trong các ngày lễ lạc.

Đến Đà Lạt những ngày này, những ai yêu hoa, thích ngắm hoa sẽ có thêm một điểm đến hấp dẫn. Đó là làng hoa layơn Hiệp An (xã Hiệp An, Đức Trọng, Lâm Đồng) ở ngay cửa ngõ của TP Đà Lạt.

Từ Đà Lạt, xuôi hết đèo Prenn, bạn có thể bắt gặp những cánh đồng hoa layơn xanh tít tắp. Càng giáp tết, làng hoa lay ơn Hiệp An càng nhộn nhịp và cực kỳ tất bật đúng với câu nói “kinh điển”: vui như tết!

Những ngày này, dọc cả đoạn đường dài hai bên quốc lộ 20, không khí thu hoạch, đóng gói, vận chuyển hoa vụ tết diễn ra sôi nổi và hối hả như chạy đua với thời gian. Trên khắp các cánh đồng hoa layơn với tổng diện tích hàng trăm hecta không ngớt bóng dáng những người nông dân đang hối hả cắt hoa, đóng gói và chuyển đến các điểm tập kết hai bên đường rồi đưa lên xe đông lạnh, chở đi tiêu thụ.

Mảnh đất Hiệp An bình thường vốn im ắng và khiêm nhường nhưng nay trỗi dậy với mùa thu hoạch layơn lớn nhất trong năm. Đến đây, bạn có thể thả hồn vào những vườn layơn ngút ngàn, tận mắt xem người nông dân thu hoạch hoa dễ như thế nào, ghi lại những khuôn hình đẹp nhất giữa cánh đồng hoa… chưa nở.

Không nhà kính, nhà lưới như các làng hoa trên Đà Lạt, layơn Hiệp An cứ “trơ gan cùng tuế nguyệt” với đất trời, sinh sôi mạnh mẽ ngay dưới ngọn núi Voi hùng vĩ. Những cành hoa layơn đỏ Pháp, vàng chanh, đỏ… mập mạp, cao đến nửa người đang hé nụ vàng, nụ đỏ như ẩn chứa điều gì rất hấp dẫn không thể lý giải.

Thăm làng hoa, bạn có thể tự tay chọn từng cành lay ơn ưng ý nhất với giá rất hữu nghị so với thị trường. Nếu may mắn còn được nhà vườn khuyến mãi tặng những cành layơn đã bung nở rất đẹp. Đây không hẳn là hàng loại, vì hoa nở sớm nên các nhà vườn không thể đóng hàng đi nên dành tặng khách lẻ đến mua hoa sớm.

Nếu có ý định khám phá làng hoa Hiệp An, bạn nên xách xe máy và máy chụp hình bắt đầu chuyến du ngoạn ngay từ bây giờ.

Một vòng làng hoa từ khi còn nắng sớm đến tận chiều tối có thể bạn vẫn chưa đi hết các cánh đồng hoa để trải nghiệm nhưng cũng để lại ít nhiều dư vị mùa xuân trong lòng.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Dũng (Chuyentrang Tuoitre), internet

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

'Mua đi anh, quýt Mường Khương đấy chứ không phải quýt Tàu đâu, nhìn không được đẹp mã nhưng là quýt sạch, lại ngọt nữa, ăn một lần là nhớ ngay!' - Không biết do giọng cô bán hàng ngọt ngào mời chào, hay quýt ngon thật mà mấy hàng hoa quả ở ngã tư chợ Mường Khương khách cứ chen nhau vào mua. Chẳng nhẽ xứ Mường toàn đá là đá này mà lại trồng được quýt ngọt sao? Ngờ ngợ với sự việc ấy, tôi quyết định "thâm nhập" vùng trồng quýt nơi đây theo lời chỉ dẫn của anh bạn đồng nghiệp.

Bên vườn quýt sai trĩu quả dưới thung lũng Sả Hồ, chàng trai trẻ dân tộc Bố Y Làn Mậu Thành kể: Ngày trước, cả thung lũng này chỉ toàn đá và cây dại mọc hoang, đất đai cằn khô, chẳng ai nghĩ rằng có thể trồng cấy được gì.

Khi vào đây sinh cơ lập nghiệp, hai vợ chồng mình chỉ có đôi bàn tay trắng, dùng sức người phát quang lau lách, bẩy từng gốc cây, nhặt từng hòn đá… ròng rã mấy tháng trời như thế mới khai phá được mảnh nương này.

'Nhìn trên đường xuống nó chỉ bé tẹo "như con tem dán trên tờ giấy báo", vậy mà vợ chồng mình quý hơn vàng đấy'… Hút xong điếu thuốc lào, Thành tiếp tục kể cho tôi nghe câu chuyện: Hôm ấy là một buổi chợ phiên. Dù chẳng có việc gì Thành cũng vẫn xuống chợ. Đi chợ để gặp bạn gặp bè, uống chén rượu ngô, nói dăm ba câu chuyện, xem người ta bán gì, mua gì…

Quá trưa, chợ phiên đã vãn người. Một người đàn ông nét mặt mệt mỏi đang ngồi ở góc chợ uể oải xếp những bầu cây gần như héo quắt vì nắng cho vào lù cở chuẩn bị ra về. Nhìn đám cây nhỏ nhỏ, lá như lá chanh, Thành tò mò hỏi:

- Cây gì thế?
- Cây quýt đấy, mua về trồng đi…

Thành bỏ đi. Đất này chỉ cỏ với cây dại mọc được thôi. Loại cây này nếu chịu được sự khắc nghiệt ở đây chắc gì đã ra quả được. Mấy năm trước thấy người ta trồng mía xương gà tốt, vợ chồng anh cũng hăm hở trồng. Vụ đầu còn thu được chục triệu. Phấn khởi làm tiếp. Mấy vụ sau cây mía đốt cứ ngắn lại. Thân to chỉ bằng cây ngô. Chua loét. Vụ vừa rồi mía xếp đống chẳng ai mua. Bao nhiêu công lao đổ hết xuống sông, xuống suối. Khó khăn đội thêm khó khăn. Thất bại đó anh còn chưa quên được.

- Trồng được mà. Ra quả mà. Bên Tàu người ta trồng ra nhiều quả lắm. Không tin à? Ba năm không ra quả thì đến tận nhà trả lại tiền…

Nhìn ánh mắt hiền lành và gương mặt chất phác có phần khắc khổ của người đàn ông, Thành suy nghĩ lại: Người vùng cao chẳng ai nói dối cả.

Mường Khương giáp biên giới Trung Quốc, đất đai, khí hậu chẳng khác nhau là mấy, người dân bên ấy trồng quýt ra quả được thì tại sao mình không thử xem thế nào… Ấy là vào năm 2003, năm đầu tiên có chàng trai người Bố Y dám bỏ tiền mua 500 cây quýt lạ về trồng trên đất Mường Khương.

Từ khi vợ chồng Thành phá mía không trồng nữa, người ta bàn ra tán vào mãi rồi cũng quên dần. Bẵng đi một năm, cũng chẳng ai biết có một vườn quýt đã bắt đầu lên xanh giữa thung lũng Sả Hồ. Nhìn vườn quýt mỗi ngày thêm xanh tốt, vợ chồng Thành đặt vào đó nhiều hy vọng. Chắc chắn là cây sống rồi. Thành vui lắm.

Anh tìm lại người bán cây giống trước kia đặt mua thêm 1.500 cây nữa. Cây quýt từ thung lũng chen lên lưng núi, xòe tán che khuất những mỏm đá. Nhưng ông trời lại một lần nữa thử lòng đôi vợ chồng trẻ. Một năm. Hai năm. Ba năm. Rồi gần 4 năm. Cây đã đến tuổi ra hoa mà cũng chỉ thấy lác đác mấy bông.

Bố mẹ Thành vào chơi, ngán ngẩm: "Trồng mía vất vả còn được cây cho trẻ con ăn. Trồng cây này thì chỉ chặt làm củi thôi con ạ…". Dân bản biết chuyện cũng bảo chẳng ai dại như vợ chồng Thành, mua cây lạ về trồng, cuối cùng mất tiền, mất cả công…

Vợ Thành, chị Vàng Thị Lan tâm sự: "Nhiều lúc em cũng nản chí, định khuyên chồng chặt bỏ hết vườn quýt đi, chứ chờ mãi cây chẳng ra hoa, ra quả. Mỗi lần đi chợ chỉ nghe người làng trên, bản dưới chê cười. Rồi đến vụ ngô, vụ lúa, người ta thi nhau lên nương gieo trồng, nhà mình thì đứng nhìn vườn quýt không ra quả rồi sau này biết lấy gì mà sống. Nhưng thấy anh ấy cứ suốt ngày tha thẩn dưới vườn như người mất hồn nên em chẳng dám nói…".

Thành nhìn ra vườn trầm ngâm: "Ngày ấy mình cũng nghĩ chắc phải chặt bỏ vườn quýt này rồi. Nhưng bao nhiêu công lao đổ hết vào đấy. Mấy lần cầm dao ra vườn giơ lên rồi lại hạ xuống. Chặt đi một cây thì đau như chặt một ngón tay. Chỉ biết cầu trời cho năm sau cây ra quả… Mà ra quả thật anh ạ! Cuối năm 2006, gần 500 cây trồng đầu tiên đều ra quả. Vụ đó mới chỉ thu được hơn 10 triệu đồng thôi, nhưng không gì sung sướng bằng…". Nói đến đây, nét mặt Thành giãn ra, tươi hẳn lên.

Vậy là từ đó đến giờ, vườn quýt năm nào cũng đem lại cho đôi vợ chồng trẻ nguồn thu kha khá. Năm 2007, 2008 mỗi năm được hơn 40 triệu đồng. Thấy thế, nhiều người trong bản, cả các cụ già cũng mò đến tận vườn để xem, nếm thử quả quýt trồng trên đất Sả Hồ thế nào. Ừ, ngon thật! Mua giống ở đâu thế? Trồng thế nào hả anh Thành? Ông chủ vườn chẳng giấu giếm gì, nói hết cho bà con biết.

Đến nay, thôn Sả Hồ và các thôn bên cạnh đã có hơn 20 hộ chuyển từ cây kém hiệu quả sang trồng quýt. Vườn quýt nhà các anh Vàng Phà Tính, Vàng Phà Quáng, Lý Xín Mìn… mùa nào cũng sai trĩu quả. Hỏi lấy giống ở đâu, bà con bảo của anh Thành đấy. Thì ra từ năm 2008, chàng trai Bố Y đã tự mày mò học hỏi kỹ thuật chiết, ghép, chọn những cây trong vườn cho quả đẹp để ghép mắt, cho ra đời thành công hàng vạn cây giống. Anh "kỹ sư chân đất" khiến nhiều người phải ngỡ ngàng.

Đồng chí Lù Ỉn Sửn, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Mường Khương nói như khoe: Hiện nay ở Mường Khương, ngoài khu vực thị trấn, được sự hỗ trợ của Chương trình 30a, nhân dân ở các xã Thanh Bình, Nậm Chảy ven biên giới cũng phát triển trồng các loại cây ăn quả có múi với diện tích lên tới 60 ha quýt ngọt và hơn 50 ha chanh trái vụ. Hợp với khí hậu, thổ nhưỡng địa phương nên cây phát triển rất tốt. Chỉ vài năm nữa sẽ cho thu hoạch.

Trong tương lai, Mường Khương đang có kế hoạch hình thành vùng cây ăn quả có múi tập trung với diện tích lên tới 300 ha để xóa đói, giảm nghèo bền vững cho người dân. Rồi đây, vùng "đất khát xứ Mường" hứa hẹn sẽ trở thành một vùng đất của hoa thơm trái ngọt. Chẳng phải nhờ phép màu nào cả, mà bắt đầu từ ý chí, nghị lực, bàn tay lao động của những con người dám nghĩ, dám làm như Thành mà thôi…

Sau nửa tiếng đi dạo quanh khu vườn, chân tôi đã mỏi nhừ, mồ hôi túa ra, khát đến khô cổ họng. Bàn tay chai sần của Thành nhẹ nhàng đặt vào tay tôi một quả quýt vừa bóc vỏ xong. Nếm một múi quýt, mọi cảm giác mệt mỏi dường như tan biến. Quả quýt vỏ mỏng, các múi đều nhau, từng tép căng mọng. Vị quýt Mường Khương thanh ngọt chứ không he he như một số loại cam, quýt bán ở chợ. Quýt ngon thế này có thể ăn no được mà không biết chán.

Chỉ tay lên sườn núi, Thành bảo: Ngoài khoảng 1.000 cây quýt 9 năm tuổi đã cho thu hoạch, mình còn trồng thêm trên kia được 9.000 cây 3 năm tuổi nữa cũng đang bói quả rồi. Năm nay quýt được mùa, nếu thu hái hết cả vườn được chừng 10 tấn quả, bán với giá 10.000 - 12.000 đồng/kg như hiện nay, tuy hơi thấp nhưng cũng thu được hơn 100 triệu đồng. Quýt Mường Khương chở ra đến đâu, nhân dân trong huyện và khách du lịch mua hết ngay đến đó…

Tôi chia tay vợ chồng Làn Mậu Thành về thành phố khi mặt trời đã lên cao. Vườn quýt được nắng cây nào cũng vàng mọng từng chùm quả. Nếu không đến tận nơi, chắc tôi đã không thể tin rằng trên xứ sở núi đá khắc nghiệt này mà bàn tay lao động và ý chí con người đã bắt đá núi phải đầu hàng, nhường chỗ cho vườn quýt sai hoa trĩu quả.

Đến nay, thôn Sả Hồ (thị trấn Mường Khương-Lào Cai) và các thôn bên cạnh đã có hơn 20 hộ chuyển từ cây kém hiệu quả sang trồng quýt. Cây quýt giờ trở thành cây trồng mang lại ấm no cho người dân nơi đây.

Du lịch, GO! - Theo Tuấn Ngọc (Lào Cai Online), ảnh sưu tầm

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Nằm cách quốc lộ 1A khoảng 3km tính theo đường chim bay, tổ dân cư số 18 thuộc ấp 2, xã Xuân Hòa (huyện Xuân Lộc) được xem là một "làng xanh" bên chân núi Mây Tàu. 
Vì lẽ ở đây, màu xanh của các loại cây ăn quả đặc sản đã từng bước biến vùng đất vốn khô cằn, sỏi đá ngày nào trở thành vùng đất quanh năm tỏa ngát hương thơm của hoa xoài, hoa nhãn...

Trên đường đưa chúng tôi đi tham quan "làng xanh", anh Lê Hữu Dũng, nhân viên công an xã đã khoe: "Ở Xuân Hòa duy nhất chỉ có tổ dân cư số 18 là bà con chuyên canh cây ăn quả đặc sản. Có thể xem đây là bước đột phá mới về đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi để phát triển kinh tế nông nghiệp của xã nhà. Tuy nhiên, để lập được ngôi làng xanh như bây giờ, bà con cũng phải trải qua quá trình cam go lắm...!".

Giữa trưa hè nắng gắt của vùng đất giáp ranh với cực nam Trung bộ, vậy mà đứng ở "làng xanh", chúng tôi vẫn có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Tại căn nhà của anh Ngô Văn Cho, tổ trưởng tổ dân cư 18 nằm sâu bên trong "làng xanh" ẩn khuất dưới những vườn nhãn, vườn xoài sum suê, tươi tốt, chúng tôi tình cờ gặp anh Phạm Văn Sểnh, tổ phó an ninh tổ 18 cũng đang có mặt ở đó.

Nghe khách hỏi thăm về "làng xanh" của mình, anh Cho và anh Sểnh vui vẻ cho biết, "làng xanh" bắt đầu hình thành từ năm 1998, khi một số bà con ở miền Tây trên đường mưu sinh đã tìm đến đất Xuân Hòa định cư. Vốn liếng trong tay không có nhiều nên bà con phải vào sâu gần chân núi Mây Tàu khai hoang phục hóa và sang nhượng lại đất của cư dân địa phương để sản xuất.

Nhớ lại cái thuở ban đầu lập nghiệp trên vùng đất mới, anh Cho lắc đầu: "Trần thân lắm mấy chú ơi! Hồi đó đất ở đây toàn là gò mối với gốc cây. Sang nhượng lại một mẫu hết 9 triệu đồng nhưng phải tốn thêm gần chừng ấy nữa để cải tạo đất thì mới có thể sản xuất được". Đất đã có trong tay; nhưng vấn đề còn lại của bà con là phải tính toán trồng cây gì để phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng vốn khắc nghiệt, thiếu nước trầm trọng.

Cần nói thêm là trước đó, ở Xuân Hòa, cây trồng chủ lực của bà con địa phương là cây mì, cây mía. Tuy nhiên, cây mía cũng không mấy thành công, chỉ có cây mì là chịu được. Nhưng đối với tập quán sản xuất của những người dân miệt vườn vùng Tây Nam bộ thì việc trồng cây mì, bà con không có nhiều kinh nghiệm, hơn nữa cây mì giá cả cũng bấp bênh, lên xuống thất thường nên bà con không mặn mòi lắm.

Vậy, tại sao không đưa các loại cây ăn quả vốn là thế mạnh của nông dân miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long trồng trên đất Xuân Hòa? Trong đó có một số loại cây như nhãn, xoài là loài cây chịu hạn, chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt? Tính toán như vậy nên ông Nguyễn Văn Thắng, cư dân trong tổ, vốn là dân Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, đã xung phong đi đầu xuống giống cây nhãn tiêu da bò và giống xoài ghép bưởi (trái có mùi bưởi khi chín). Từ khi xuống giống đến nay, mấy trăm cây nhãn, cây xoài của ông Thắng đã cho kết quả rất khả quan.

Trải qua nhiều mùa khô hạn khắc nghiệt nhưng cây vẫn chống chọi được và đâm cành, nẩy lộc, đơm hoa, kết trái. Trước sự đột phá thành công của ông Thắng, nhiều bà con trong tổ đã mạnh dạn vay vốn đầu tư lập vườn xoài, vườn nhãn, từng bước phủ xanh một vùng đất vốn khô cằn chỉ có loài cây buông, cây cọ mới tồn tại. Theo thống kê chưa đầy đủ của tổ trưởng Ngô Văn Cho, trong số 34 hộ của "làng xanh", với chừng 200 nhân khẩu (đều là dân miền Tây) thì đã có 100% hộ lập vườn, trồng nhãn, trồng xoài (tổng diện tích hơn 64 hécta). Hộ nhiều nhất trồng 4-5 hécta, ít cũng 0,5 - 1 hécta.

Vụ thu hoạch đầu tiên năm 2000 - 2001, bình quân mỗi hécta nhãn cho 5 tấn trái, con số này đã tăng dần lên theo tuổi của cây trong những năm sau. Riêng anh Cho sắp tới, chỉ với vài sào năm thứ 5 thôi cũng có thu nhập mười mấy triệu đồng. Đối với cây xoài cũng vậy, vụ thu hoạch trong năm 2006, có hộ như ông Nguyễn Văn Quang đã thu hoạch 4 hécta nhãn với sản lượng đạt 16-20 tấn, thu về ngót nghét cả trăm triệu đồng. Hoặc như hộ ông Nguyễn Hoàng Sung thu trái từ 105 gốc xoài được 30 triệu đồng v.v...

Trong cuộc chạy đua để giảm đói nghèo thì hiệu quả kinh tế từ việc lập vườn trồng cây ăn quả bên chân núi Mây Tàu của bà con tổ dân cư số 18, ấp 2, xã Xuân Hòa là việc làm đáng trân trọng. Cũng theo tổ trưởng Ngô Văn Cho, để cho kinh tế của "làng xanh" và bà con trong khu vực phát triển bền vững, bà con tự làm giàu ngay trên mảnh đất của mình. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi ở đây là cần phải có sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước về nguồn nước tưới. Vì, có nước thì phát triển cây gì cũng được.

Thông thường ở Xuân Hòa, cứ sau Tết Nguyên đán là nguồn nước tưới đã cạn kiệt, các con suối ở đây đều trơ đáy. Do vậy, hy vọng cũng là cứu cánh của bà con là mong Nhà nước quan tâm đầu tư cho vùng đất này, hệ thống kênh mương thủy lợi dẫn nước từ con Suối Điệp ở vùng chuyên canh mía xã Xuân Hưng về Xuân Hòa. Có nước, "làng xanh" sẽ thêm xanh hơn.

Du lịch, GO! - Theo Đức Việt (web Dongnai)

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Không biết tự bao giờ, húng Láng đã góp mặt trong những tinh hoa của đất Hà Thành bởi hương vị thơm ngon nổi tiếng.

Rau húng Láng hay còn gọi là rau thơm, có vị thơm dịu mát là một đặc sản của làng Láng, thường xuất hiện trong bữa cơm bình dân hay cỗ bàn của người Hà Nội. Chính vì thế mà ngay từ xa xưa, húng Láng đã được ngợi ca hết lời cùng những đặc sản khác của Hà Thành:

Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây
Thật vậy, rau húng Láng được trồng ở chính đất Láng có một mùi vị riêng độc đáo mà nơi khác không thể sánh bằng.

Bởi húng làng Láng lá dày, có mùi thơm dịu mát, thoang thoảng, vị không cay còn húng Láng trồng nơi khác có lá mỏng hơn, ăn rất nhạt lại không thơm và có mùi hơi hắc…
Rau húng Láng nổi tiếng của làng Láng

Để cảm nhận được hương vị của húng Láng, người ăn phải ăn từ từ, nhấm nháp từng chút… Tuy nhiên, để phân biệt được rau húng trồng ở làng Láng với rau húng trồng ở nơi khác thì phải người sành ăn mới biết còn những người trẻ không phân biệt được bởi quan niệm rau nào chẳng là rau.

Húng Láng thích hợp với rất nhiều món xào, nấu hoặc ăn sống cùng những loại rau khác. Với các món xào, nấu, rau húng Láng trở thành thứ gia vị gợi mùi hương cho món ăn đó. Chỉ cần thiếu thứ gia vị này, món ăn sẽ mất vị ngon riêng biệt và không dậy mùi thơm: món phở mà thiếu rau húng Láng thì sẽ chẳng còn hương thơm hấp dẫn người ăn hay với mì tôm, chỉ cần cho thêm vài cọng rau vào, mì tôm trở nên vô cùng ngon miệng.

Rau húng Láng thường được ăn kèm cùng một số loại rau sống khác: xà lách, rau mùi, rau bạc hà, kinh giới… Món rau sống này thường được ăn kèm với bún chả, nem, cá nấu, cá luộc….

Với người Hà Nội, húng Láng chính là một đặc sản thân quen trong mỗi bữa ăn hàng ngày của họ. Và trong những ngày hè nóng nực này, rau húng Láng thường góp mặt cùng món bún riêu cua, canh cua, phở sáng, bún đậu mắm tôm hay cá sốt cà chua…

Thế nên, mỗi khi tết đến xuân về, người làng Láng lại nô nức chào đón những vị khách thân quen của mình tới mua những bó rau thơm lừng danh của làng Láng.

Du lịch, GO! - Theo Hồng Mây (báo Lao Động), internet
Đảo Hà Nam là một hòn đảo nhỏ, gần bờ, thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Trên đảo có tất cả là 8 xã, phường: Liên Vị, Tiền Phong, Liên Hòa, Phong Cốc, Cẩm La, Yên Hải, Nam Hòa, Phong Hải.

< Thuyền nan là phương tiện di chuyển, mưu sinh không thể thiếu của người dân làng chài trên vịnh Hạ Long.

Từ đất liền ra đảo chỉ qua cầu Sông Chanh dài khoảng 1,5km. Sông Chanh là tên gọi của đoạn sông Bạch Đằng chảy qua vùng này, đây cũng là dòng sông tách đảo với đất liền.
Đảo Hà Nam có một làng nghề đan thuyền nan truyền thống khá độc đáo tập trung chủ yếu ở khu Hưng Học, phường Nam Hòa (TX. Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh).

Ở đây có những địa danh lịch sử nổi tiếng như: Bãi cọc Bạch Đằng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà... cùng nhiều lễ hội dân gian và sự tồn tại các làng nghề truyền thống, trong đó có nghề đan thuyền nan.

Đan tre thành những mảng lớn.

Với trên 200 hộ gia đình cùng những tổ hợp nhỏ làm nghề đan, đóng thuyền nan thủ công, mỗi năm làng nghề này đã xuất bán tới hàng nghìn chiếc thuyền lớn nhỏ (trọng tải từ vài tạ đến trên 10 tấn) phục vụ ngư dân địa phương và các tỉnh lân cận đi sông, biển đánh bắt cá, mực...

< Trước khi “sơn” phủ nhựa đường, người ta phải phết qua lớp phân trâu, bò để khô giữ cốt, đổ nhựa.

Theo những người thợ làng nghề, đan thuyền nan không quá khó, phức tạp mà chủ yếu đòi hỏi sự tháo vát và cần mẫn. 
< Người thợ già Lê Đức Đáng (35 năm trong nghề) đang căn chỉnh máy, chân vịt - công đoạn phức tạp nhất của chiếc thuyền.

Một gia đình gồm 2 vợ chồng, nếu chuẩn bị nguyên liệu sẵn (tre phơi khô) thì việc thi công một con thuyền nhỏ sẽ mất khoảng thời gian 4-5 ngày.

< Chở thuyền đi bán trên đảo và những người khách tìm đến tận nơi hỏi mua thuyền.

Còn cơ sở lớn hơn như của anh Phạm Văn Kiên cũng cho ra đời trên 20 chiếc thuyền nan mỗi tháng trọng tải từ 10 tấn trở xuống.

Trong thời điểm này, việc tiêu thụ thuyền nan ở Nam Hòa có phần giảm sút do yếu tố kinh tế khó khăn, nhưng người dân nơi đây vẫn lạc quan đóng thuyền và gìn giữ nghề truyền thống vốn luôn tồn tại, nuôi sống gia đình họ qua nhiều thế hệ.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Laodong, internet